Tóm tắt Về truyện “Làng” của Kim Lân giúp em nắm nhanh mạch lập luận trong bài bình giảng của nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Long về truyện ngắn Làng của Kim Lân – văn bản đọc ở Bài 10 sách Ngữ văn 9 Cánh diều (tập hai). Với một văn bản nghị luận, tóm tắt không phải kể lại câu chuyện mà là rút gọn luận đề, các luận điểm, lí lẽ và bằng chứng theo đúng trình tự người viết triển khai. Dưới đây là 8 mẫu với độ dài và cách trình bày khác nhau: vài câu, một đoạn, theo bố cục, dạng sơ đồ, dạng bảng và bản chi tiết.
Cách tóm tắt văn bản nghị luận Về truyện “Làng”
Trước khi đọc các mẫu, em nên ghi nhớ bốn bước:
- Bước 1: xác định luận đề – vấn đề bao trùm cả bài (tình yêu làng của ông Hai hòa vào lòng yêu nước).
- Bước 2: tìm luận điểm của từng phần, thường nằm ở câu đầu đoạn.
- Bước 3: chọn lí lẽ, bằng chứng tiêu biểu nhất cho mỗi luận điểm, bỏ bớt phần trích dẫn dài.
- Bước 4: viết lại bằng lời của mình, giữ đúng thứ tự lập luận và kết luận của người viết.
Sơ đồ tư duy tóm tắt Về truyện “Làng” của Kim Lân
Sơ đồ dưới đây gom các ý chính của bài viết thành sáu nhánh để em dễ ghi nhớ.


Tóm tắt Về truyện “Làng” của Kim Lân ngắn nhất – mẫu 1
Nguyễn Văn Long xem Làng là truyện có cốt truyện tâm lí và lần theo nỗi nhớ, nỗi nhục, sự lựa chọn của ông Hai khi nghe tin làng theo giặc. Qua đó, ông chứng minh tình yêu làng của người nông dân ấy đã gắn chặt với lòng yêu nước, yêu kháng chiến, và đánh giá Làng là thành công sớm của văn học cách mạng.
Tóm tắt Về truyện “Làng” của Kim Lân ngắn gọn – mẫu 2
Bài viết mở đầu bằng nhận xét: truyện Làng ít biến cố, sức hấp dẫn nằm ở thế giới nội tâm ông Hai. Những ngày sống xa quê, ông lão nhớ làng đến mức đêm nào cũng phải tìm người để kể. Rồi một tin dữ ập tới: làng Chợ Dầu theo Tây. Ông bàng hoàng, xấu hổ, trốn trong nhà, sợ mọi lời xì xào. Bị chủ nhà xua đuổi, ông vẫn không quay về làng giặc mà tự nhủ phải coi làng là kẻ thù. Cuộc trò chuyện với đứa con nhỏ là lúc ông bày tỏ trọn vẹn lòng mình với quê hương và Cụ Hồ. Người viết kết luận: Làng sớm thành công vì Kim Lân hiểu sâu người nông dân và có ngòi bút truyện ngắn vững vàng.
Tóm tắt Về truyện “Làng” của Kim Lân theo bố cục – mẫu 3
Phần 1 – Nhận định chung. Làng thuộc kiểu truyện lấy tâm trạng nhân vật làm trục chính; cốt truyện giản dị, mọi chú ý dồn vào ông Hai.
Phần 2 – Các chặng cảm xúc của nhân vật. Thói quen sang nhà hàng xóm kể chuyện làng cho thấy nỗi nhớ quê da diết của ông. Kim Lân dựng một tình huống thử thách: tin làng lập tề theo giặc đến giữa lúc ông đang vui. Ông lặng người, rồi sống những ngày nơm nớp, cả nhà ngột ngạt, chủ nhà lại muốn đuổi đi. Trong bế tắc, ông vẫn không chịu về làng, chọn trung thành với kháng chiến. Người viết đối chiếu với những người lính trong thơ Chính Hữu, Hồng Nguyên để chỉ ra nét mới trong tình cảm của quần chúng. Đỉnh điểm là hai lần ông hỏi chuyện thằng con út, nói hộ tấm lòng không bao giờ thay đổi của mình.
Phần 3 – Đánh giá. Làng là một trong những truyện thành công sớm nhất viết về tình cảm của nhân dân với cách mạng, bắt nguồn từ sự gắn bó của Kim Lân với nông thôn và tài viết truyện ngắn từ trước năm 1945.
Tóm tắt Về truyện “Làng” của Kim Lân bằng sơ đồ luận điểm – mẫu 4
Luận đề: Tình yêu làng của ông Hai hòa quyện với lòng yêu nước, được thể hiện đặc sắc qua nghệ thuật miêu tả tâm lí.
- Luận điểm 1: Làng là truyện có cốt truyện tâm lí.
- Lí lẽ: truyện ít sự kiện, chủ yếu đi vào nội tâm nhân vật chính.
- Luận điểm 2: Ông Hai mang nỗi nhớ làng khắc khoải nơi tản cư.
- Bằng chứng: tối tối sang nhà bác Thứ kể chuyện làng, nói say sưa, ánh mắt sáng lên.
- Luận điểm 3: Tin làng theo giặc khiến ông đau đớn, tủi nhục.
- Bằng chứng: ông nghẹn lời, lặng người; không dám ra ngõ, giật mình khi nghe bàn tán; cả nhà sống trong không khí nặng nề.
- Luận điểm 4: Trong thế bế tắc, tình yêu làng đặt dưới tình yêu nước.
- Bằng chứng: bị đuổi nhà vẫn gạt ý định về làng, quyết coi làng là kẻ thù.
- Mở rộng: những người lính rời làng trong thơ Đồng chí, Nhớ.
- Luận điểm 5: Cuộc trò chuyện với con út là cao trào cảm xúc.
- Bằng chứng: hai bố con nhắc làng Chợ Dầu, cùng nói lời ủng hộ Cụ Hồ; nước mắt ông lão tuôn rơi.
Kết luận: Làng là thành công sớm của văn học cách mạng nhờ vốn sống nông thôn và ngòi bút truyện ngắn già dặn của Kim Lân.
Tóm tắt Về truyện “Làng” của Kim Lân dạng bảng – mẫu 5
| Phần | Ý chính | Lí lẽ, bằng chứng |
|---|---|---|
| 1 | Đặc điểm cốt truyện | Đơn giản, xoay quanh tâm trạng một nhân vật |
| 2a | Nỗi nhớ làng | Đêm nào cũng sang hàng xóm kể chuyện, không cần người nghe đáp lại |
| 2b | Cú sốc tin dữ | Tin đến đúng lúc đang vui; ông bàng hoàng, cố hỏi lại rồi đành tin |
| 2c | Nỗi tủi nhục, sợ hãi | Trốn trong nhà, nghe ai nói “Việt gian” cũng tưởng nói mình |
| 2d | Lựa chọn dứt khoát | Bị đuổi nhà vẫn không về làng giặc; liên hệ thơ Chính Hữu, Hồng Nguyên |
| 2e | Cao trào | Hai cuộc hỏi đáp với thằng con út, ủng hộ Cụ Hồ |
| 3 | Giá trị của truyện | Thành công sớm; nhờ hiểu người nông dân và tay nghề viết truyện |
Tóm tắt Về truyện “Làng” của Kim Lân theo các chặng tâm trạng ông Hai – mẫu 6
Bài viết dẫn người đọc đi qua năm chặng cảm xúc của nhân vật:
- Nhớ làng: xa quê, ông lão chỉ biết giải khuây bằng những buổi tối kể chuyện làng với hàng xóm.
- Bàng hoàng: tin làng theo Tây ập đến giữa niềm vui thắng trận, khiến ông như nghẹt thở.
- Tủi nhục: niềm kiêu hãnh về làng biến thành nỗi xấu hổ; ông lẩn tránh mọi người, cả nhà im lặng nặng nề.
- Giằng xé và lựa chọn: bị dồn đến đường cùng, ông vẫn từ chối quay về, chấp nhận đoạn tuyệt với làng để giữ trọn lòng với kháng chiến.
- Giãi bày: ôm đứa con nhỏ, ông hỏi con quê ở đâu, ủng hộ ai – những câu hỏi thực chất là lời tự khẳng định tấm lòng son sắt của chính mình.
Từ năm chặng ấy, người viết đi đến kết luận về giá trị của truyện và tài năng của Kim Lân.
Tóm tắt Về truyện “Làng” của Kim Lân chi tiết – mẫu 7
Văn bản là bài bình giảng của Nguyễn Văn Long, mở đầu bằng một nhận định: Làng có cốt truyện hết sức giản dị, mọi chi tiết đều quy về tâm trạng ông Hai, nên đây là kiểu truyện lấy diễn biến nội tâm làm xương sống.
Đi vào phân tích, người viết dừng lại ở thói quen của ông Hai nơi tản cư. Hễ tối đến, nghe vợ nhẩm tính tiền hàng, ông lại thấy bứt rứt và bỏ sang nhà bác Thứ. Ở đó ông nói một mình về làng, say sưa, rạng rỡ; người nghe có chú ý hay không cũng chẳng quan trọng, bởi ông chỉ cần vơi bớt nỗi nhớ.
Tiếp đó, bài viết chỉ ra tình huống then chốt mà Kim Lân dựng lên. Đang hớn hở vì đọc được tin quân ta thắng trận, ông Hai bỗng nghe những người tản cư mới tới kể rằng làng Chợ Dầu đã lập tề theo giặc. Ông chết sững, gặng hỏi mong là tin sai, nhưng lời họ quá rành mạch. Từ giây phút ấy, ông tự hào về làng bao nhiêu thì nhục nhã bấy nhiêu. Ông ru rú trong nhà, nghe ngóng từng tiếng động, hễ ai nhắc tới Tây hay Việt gian là lủi vào góc. Cả gia đình cùng chìm trong im lặng.
Tình thế càng ngặt nghèo khi mụ chủ nhà ý tứ muốn đuổi gia đình ông. Ý nghĩ trở về làng thoáng qua rồi bị ông gạt phắt, vì về làng là làm nô lệ cho giặc, là quay lưng với cuộc kháng chiến và với Cụ Hồ. Ông đau đớn chấp nhận coi làng là kẻ thù. Theo người viết, đây là nét mới của người nông dân thời kháng chiến: tình yêu làng đã mở rộng thành lòng yêu nước, gắn với cách mạng, giống những chàng trai rời quê ra trận trong thơ Chính Hữu và Hồng Nguyên.
Đỉnh cao cảm xúc là cảnh ông Hai ôm thằng con út vào lòng hỏi chuyện. Đứa bé đáp rằng nhà ở làng Chợ Dầu, rằng nó muốn về làng, rằng nó ủng hộ Cụ Hồ. Nước mắt ông lão trào ra. Không có ai để tâm sự, ông mượn lời con để giãi bày, để tự minh oan cho tấm lòng thủy chung của bố con ông.
Phần cuối khẳng định Làng là một trong những truyện thành công đầu tiên của văn học cách mạng về tình cảm của nhân dân với đất nước, với lối kể bình dị mà đặc sắc. Thành công ấy có được nhờ Kim Lân gắn bó sâu sắc với nông thôn quê mình và đã có tay nghề truyện ngắn vững vàng ngay từ những năm trước 1945.
Tóm tắt Về truyện “Làng” của Kim Lân bằng đoạn văn tổng – phân – hợp – mẫu 8
Bài viết của Nguyễn Văn Long làm nổi bật vẻ đẹp tâm hồn ông Hai: một người nông dân yêu làng tha thiết nhưng đặt đất nước lên trên hết. Trước hết, ông khẳng định Làng là truyện tâm lí, cốt truyện đơn sơ. Sau đó, ông phân tích sự đối lập giữa niềm hãnh diện của ông Hai về làng và nỗi nhục nhã khi nghe làng theo giặc, những ngày ông lão sống thấp thỏm, quyết định không trở về dù bị đuổi khỏi chỗ trọ, và cảnh hai bố con thủ thỉ về làng, về Cụ Hồ. Người viết còn đặt nhân vật bên cạnh những người lính trong thơ kháng chiến để thấy đây là nét chung của cả một thế hệ. Tóm lại, qua bài viết, truyện Làng hiện lên như một thành công sớm, chân thực và cảm động về tình cảm của người nông dân với cách mạng.
Kết luận
Tám mẫu tóm tắt trên đều bám theo mạch lập luận của văn bản: luận đề về tình yêu làng hòa vào lòng yêu nước, các luận điểm đi theo những chặng tâm trạng ông Hai và lời đánh giá cuối bài. Tùy yêu cầu, em chọn mẫu ngắn (mẫu 1, 2) khi làm bài kiểm tra, mẫu sơ đồ hoặc bảng (mẫu 4, 5) khi ôn tập, mẫu chi tiết (mẫu 7) khi cần nắm kĩ dẫn chứng. Muốn hiểu sâu hơn, em nên đọc lại cả truyện ngắn Làng của Kim Lân trong SGK tập một.
Xem thêm: