Tóm tắt Tranh Đông Hồ – nét tinh hoa của văn hóa dân gian Việt Nam giúp em nắm nhanh những thông tin chính của văn bản mở đầu Bài 4 (Những di sản văn hóa) sách Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo, tập một. Văn bản do nhóm biên soạn tổng hợp từ tư liệu của An Chương và Khánh An. Dưới đây là 7 mẫu tóm tắt từ ngắn đến dài, kèm mẫu tóm tắt riêng các công đoạn làm tranh (câu 1 phần Sau khi đọc, trang 85).

Sơ đồ tư duy tóm tắt Tranh Đông Hồ
Văn bản gồm sa-pô và năm đề mục, tương ứng năm nhóm thông tin: đề tài – chất liệu, màu sắc – cách chế tác – mùa tranh Tết – lưu giữ, phục chế.

Tóm tắt Tranh Đông Hồ ngắn nhất – mẫu 1
Tranh Đông Hồ là dòng tranh dân gian lấy đề tài từ đời sống làng quê, in trên giấy điệp bằng màu tự nhiên qua nhiều ván khắc gỗ. Tranh rộn ràng nhất vào dịp Tết với phiên chợ tháng Chạp. Hiện nay nghề tranh có nguy cơ mai một, các nghệ nhân đang nỗ lực lưu giữ, phục chế ván khắc.
Tóm tắt Tranh Đông Hồ trong một đoạn văn – mẫu 2
Văn bản giới thiệu tranh Đông Hồ – di sản đẹp ở sự gần gũi, ấm áp mà độc đáo. Từ con gà, con lợn, con trâu đến cảnh sinh hoạt thôn quê, nghệ nhân làng Hồ tạo nên những bức tranh vui tươi gửi gắm lời chúc, hoặc kể chuyện hài hước để phê phán thói xấu. Tranh in trên giấy dó phủ bột vỏ điệp, dùng bốn màu chế từ than xoan, gỉ đồng, hoa hòe, sỏi son… Mỗi màu cần một ván khắc và một lần in, người thợ in thủ công bằng tay, dùng xơ mướp xoa cho màu ăn giấy. Hằng năm, từ giữa năm cả làng đã lo sửa soạn mùa tranh Tết, còn phiên chợ tranh họp ở đình làng vào tháng Chạp. Sau thời thịnh vượng cuối thế kỉ XIX – nửa đầu thế kỉ XX, tranh Đông Hồ đứng trước nguy cơ thất truyền; việc thu mua, phục chế ván khắc cổ là cách cứu nghề hiệu quả.
Tóm tắt Tranh Đông Hồ theo các đề mục – mẫu 3
Sa-pô: Tranh Đông Hồ cuốn hút nhờ màu sắc, bố cục và chất liệu tự nhiên; đây là di sản cần bảo vệ.
1. Đề tài, hình tượng: Con vật, cảnh vật quen thuộc trở thành tranh chúc phúc như Gà đại cát, Lợn đàn, Trâu sen; những thói xấu được kể vui qua Đám cưới chuột, Thầy đồ Cóc…
2. Chất liệu, màu sắc: Giấy điệp làm từ vỏ điệp nghiền trộn hồ, quét lên giấy dó; bốn màu đen, xanh, vàng, đỏ lấy từ cây cỏ, khoáng vật, ứng với bốn ván in.
3. Chế tác: Vẽ mẫu, can nét bằng mực nho, khắc ván cho từng màu; in bằng cách úp ván đã thấm màu lên giấy, xoa xơ mướp rồi bóc ra.
4. Tranh Tết: Làng tất bật từ tháng Bảy, tháng Tám; giấy phơi khắp nơi; chợ tranh họp năm phiên trong tháng Chạp; tranh được dán tường, năm sau thay mới.
5. Lưu giữ, phục chế: Từng cực thịnh, nay tranh gặp khó vì thương mại hóa; nghệ nhân và các dòng họ vẫn giữ nghề, thu mua, phục chế hàng trăm ván khắc.
Tóm tắt các công đoạn làm tranh Đông Hồ – mẫu 4
- Bước 1 – Chọn đề tài, vẽ mẫu: ý tưởng lấy từ đời sống hằng ngày hoặc truyện dân gian.
- Bước 2 – Can và tách màu: dùng mực nho can lại rõ từng nét, từng mảng màu trên tờ giấy bản mỏng.
- Bước 3 – Khắc ván: mỗi màu một ván gỗ riêng; tranh có mấy màu thì có mấy ván.
- Bước 4 – Lấy màu: thợ cầm tay co gắn sau ván, ấn ván vào bìa thấm màu (giống hộp mực dấu).
- Bước 5 – In: úp ván lên giấy như đóng triện; lật ván, giấy dính theo nhờ màu pha hồ nếp.
- Bước 6 – Xoa và bóc: dùng xơ mướp xoa mặt sau giấy cho màu thấm đều, rồi bóc giấy khỏi ván.
- Bước 7 – Lặp lại: in lần lượt từng màu cho đến khi đủ số màu của bức tranh.
Tóm tắt Tranh Đông Hồ chi tiết – mẫu 5
Mở đầu văn bản, người viết nhấn mạnh sức cuốn hút của tranh Đông Hồ đến từ khuôn hình, cách bố cục, gam màu và chất liệu thiên nhiên; vẻ đẹp ấy vừa thân thuộc vừa riêng biệt, là di sản đáng được bảo vệ.
Về đề tài, nghệ nhân Đông Hồ biến những hình ảnh bình dị của làng quê – gà, lợn, trâu, bò, tôm, cá – thành tranh tươi vui, chứa đựng mong ước, như Lợn đàn, Gà thư hùng, Trâu sen, Gà đại cát, hình em bé ôm gà, ôm tôm. Mặt trái của đời sống nông thôn đi vào tranh thành những câu chuyện vui: Thầy đồ Cóc, Đám cưới chuột, Đánh ghen, Trạng chuột vinh quy, Hứng dừa.
Về chất liệu, tranh in trên giấy điệp – giấy dó được phủ hỗn hợp bột vỏ điệp và hồ bằng chổi lá thông. Màu sắc hoàn toàn tự nhiên: sắc đen của than xoan, than lá tre; sắc xanh của lá chàm, gỉ đồng; sắc vàng của hoa hòe; sắc đỏ của gỗ vang, sỏi son. Bốn màu tương ứng với bộ bốn ván khắc.
Về chế tác, sau khi vẽ mẫu, người làm tranh can lại nét và mảng màu bằng mực nho trên giấy bản mỏng, chuyển sang ván gỗ để khắc, mỗi màu một ván. Khi in, thợ cầm tay co, úp ván vào bìa thấm màu rồi úp lên giấy; màu có hồ nếp nên giấy dính theo ván, thợ lấy xơ mướp xoa đều rồi gỡ giấy. Mỗi màu in một lượt.
Về mùa tranh Tết, khoảng tháng Bảy, tháng Tám, cả làng rộn ràng chuẩn bị, giấy điệp phơi kín sân nhà, sân đình, ngõ xóm, triền đê, mái nhà. Chợ tranh họp trong tháng Chạp tại đình làng, người buôn mua ở chợ, đặt tận nhà, có khi đổi bằng đặc sản; người quê mua tranh dán tường, hết năm lại thay.
Cuối cùng, văn bản cho biết làng tranh thịnh nhất từ cuối thế kỉ XIX đến thập niên 40 thế kỉ XX; nay, trước sức ép thương mại hóa, tranh có nguy cơ thất truyền. Nhờ các nghệ nhân, các dòng họ tâm huyết, cùng việc thu mua, lưu giữ và phục chế hàng trăm ván khắc, nghề tranh đang được cứu.
Tóm tắt bằng lời một người dân làng Hồ – mẫu 6
(Mẫu đóng vai để luyện kể; thông tin bám theo văn bản.) Quê tôi là làng tranh Đông Hồ. Từ con gà, con lợn trong vườn đến cảnh đám cưới chuột vui nhộn, các cụ đều đưa vào tranh. Giấy in tranh là giấy điệp, quét bột vỏ điệp trộn hồ lên mặt giấy dó; còn màu thì các cụ chế từ lá chàm, hoa hòe, gỗ vang, than lá tre. Mỗi màu một ván khắc, in xong màu này mới in màu khác, tay xoa xơ mướp cho màu ăn đều. Cứ tháng Bảy, tháng Tám là làng tôi đã phơi giấy kín đường làng, chờ phiên chợ tranh tháng Chạp họp ngay ở đình. Làng tranh xưa kia rất thịnh; nay nghề gặp nhiều khó khăn, nhưng nhiều nghệ nhân vẫn kiên trì giữ nghề, sưu tầm và phục chế ván khắc cổ để tranh Đông Hồ không bị mai một.
Tóm tắt Tranh Đông Hồ để thuyết trình – mẫu 7
Thưa thầy cô và các bạn, văn bản Tranh Đông Hồ – nét tinh hoa của văn hóa dân gian Việt Nam giúp chúng ta hiểu một di sản quen thuộc qua năm khía cạnh. Một là đề tài gần gũi, hình tượng ngộ nghĩnh, vừa chúc phúc vừa phê phán. Hai là chất liệu tự nhiên: giấy điệp và bốn màu từ cây cỏ, khoáng vật. Ba là kĩ thuật in thủ công công phu, mỗi màu một ván, một lượt in. Bốn là không khí rộn ràng của mùa tranh và chợ tranh Tết. Năm là nỗ lực lưu giữ, phục chế trước nguy cơ mai một. Từ văn bản, mỗi chúng ta có thể góp phần giữ gìn di sản bằng việc tìm hiểu, trân trọng và giới thiệu tranh Đông Hồ với bạn bè.
Kết luận
Khi tóm tắt văn bản, em nên bám theo sa-pô và năm đề mục để không bỏ sót thông tin, ghi đúng các chi tiết về giấy điệp, bốn màu tự nhiên, quy trình in và phiên chợ tháng Chạp. Để trả lời đủ câu hỏi SGK, em xem thêm các bài dưới đây.
Xem thêm:
- Soạn bài Tranh Đông Hồ – nét tinh hoa của văn hóa dân gian Việt Nam
- Soạn bài Lí ngựa ô ở hai vùng đất (Phạm Ngọc Cảnh)
- Soạn bài Chợ nổi – nét văn hóa sông nước miền Tây