Những kinh nghiệm dân gian về thời tiết là chùm sáu câu tục ngữ mở đầu Bài 7 (Trí tuệ dân gian) trong sách Ngữ văn 7 Chân trời sáng tạo tập hai. Chỉ bằng vài chữ, ông cha ta đã gói lại cách nhìn trăng, nhìn gió, nhìn chuồn chuồn để đoán nắng mưa và cảm nhận nhịp ngày đêm theo mùa. Bài viết chép lại nguyên văn sáu câu tục ngữ, kèm thông tin về tác giả dân gian, xuất xứ, thể loại, bố cục, giải nghĩa từng câu, đặc điểm hình thức, giá trị nội dung – nghệ thuật và sơ đồ tư duy.
Nội dung văn bản Những kinh nghiệm dân gian về thời tiết
Văn bản in ở SGK tập hai, trang 29 – 30 (câu hỏi Suy ngẫm và phản hồi ở trang 30 – 31). Tục ngữ là sáng tác dân gian nên Văn VN chép đủ sáu câu theo bản SGK; lời giải các câu hỏi xem ở bài soạn bài Những kinh nghiệm dân gian về thời tiết.

1. Trời nắng chóng trưa, trời mưa chóng tối.
2. Trăng quầng thì hạn, trăng tán thì mưa.
3. Gió heo may, chuồn chuồn bay thì bão.
4. Tháng Giêng rét đài, tháng Hai rét lộc, tháng Ba rét nàng Bân.
5. Chuồn chuồn bay thấp thì mưa,
Bay cao thì nắng, bay vừa thì râm.
6. Đêm tháng Năm, chưa nằm đã sáng,
Ngày tháng Mười, chưa cười đã tối.
Thông tin tác giả: tác giả dân gian
Các câu tục ngữ trong văn bản không có tác giả cụ thể. Đó là sáng tác tập thể của nhân dân lao động, ra đời từ những lần quan sát trời đất lặp đi lặp lại qua nhiều thế hệ, được truyền miệng, gọt giũa dần cho đến khi thành những câu ngắn gọn, dễ nhớ như hôm nay. Vì vậy, khi học, em ghi tác giả là tác giả dân gian hoặc tục ngữ Việt Nam (cách ghi của mục lục SGK).
Người sáng tạo ra tục ngữ thời tiết chủ yếu là nông dân. Với họ, biết trước nắng, mưa, rét, bão là chuyện sống còn của mùa màng, nên kinh nghiệm thời tiết được đúc kết rất sớm và lưu truyền rất rộng. Cũng vì sinh ra từ quan sát thực tế của cư dân đồng bằng Bắc Bộ, nhiều câu phản ánh đúng nhất khí hậu của vùng này.
Thông tin tác phẩm Những kinh nghiệm dân gian về thời tiết
Xuất xứ của văn bản
Theo SGK và các tài liệu hướng dẫn học, các câu tục ngữ được tuyển chọn từ hai bộ sưu tập: Kho tàng tục ngữ người Việt do Nguyễn Xuân Kính chủ biên (NXB Văn hóa – Thông tin, 2002) và Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam của Vũ Ngọc Phan (NXB Văn học, 2016). Nhan đề Những kinh nghiệm dân gian về thời tiết do người biên soạn sách đặt để gom các câu cùng chủ đề.
Thể loại và phương thức biểu đạt
- Thể loại: tục ngữ – loại câu nói dân gian rất ngắn, có hình thức cố định, giàu nhịp điệu và hình ảnh, gói ghém hiểu biết của nhân dân về tự nhiên, về sản xuất, về con người và đời sống xã hội.
- Phương thức biểu đạt: mỗi câu là một nhận định, một kết luận rút ra từ quan sát, nên có thể xem là lối nghị luận rất cô đọng, kết hợp miêu tả hình ảnh thiên nhiên. Một số tài liệu tham khảo ghi phương thức biểu đạt là biểu cảm; khi làm bài, em nên bám theo cách gọi của thầy cô.
Bố cục: Những kinh nghiệm dân gian về thời tiết có mấy phần?
Văn bản gồm 6 câu tục ngữ, có thể xếp thành 2 nhóm theo nội dung:
- Nhóm 1 (câu 2, 3, 5): kinh nghiệm dự báo nắng, mưa, bão qua dấu hiệu tự nhiên – vầng sáng quanh mặt trăng, gió heo may, cách bay của chuồn chuồn.
- Nhóm 2 (câu 1, 4, 6): kinh nghiệm về thời gian và mùa – cảm nhận độ dài của ngày khi nắng, khi mưa; các đợt rét đầu năm; ngày đêm dài ngắn khác nhau theo tháng.
Nhiều tài liệu chia văn bản thành 6 phần, mỗi câu tục ngữ là một phần; cách chia theo nhóm giúp em thấy rõ hơn hai hướng quan sát của người xưa.
Giải nghĩa từng câu tục ngữ
Câu 1. Ngày nắng, trời sáng sủa, con người làm được nhiều việc nên có cảm giác thời gian trôi nhanh, thoắt cái đã tới trưa. Ngày mưa, mây đen che kín, ánh sáng yếu nên trời như sập tối sớm hơn. Câu tục ngữ nói về cảm nhận thời gian trong ngày, nhắc người lao động sắp xếp công việc cho kịp.
Câu 2. Quầng và tán đều là những vầng sáng xuất hiện quanh mặt trăng khi ánh trăng đi qua lớp mây mỏng trên cao. Dân gian phân biệt hai kiểu vầng sáng ấy để đoán thời tiết những ngày tới: thấy trăng quầng thì liệu trời sẽ khô, nắng hạn; thấy trăng tán thì liệu trời sắp mưa.
Câu 3. Gió heo may là thứ gió nhẹ, hơi se lạnh và khô, thường xuất hiện vào cuối thu ở miền Bắc. Khi gió heo may thổi mà chuồn chuồn bỗng bay ra nhiều, người xưa đoán sắp có bão để kịp chằng chống nhà cửa, thu hoạch hoa màu.
Câu 4. Câu tục ngữ điểm lại ba đợt rét của ba tháng đầu năm âm lịch. Tháng Giêng còn rét đậm vào lúc cây cối ra đài hoa; tháng Hai rét nhẹ hơn, mưa phùn, đúng lúc cây đâm chồi nảy lộc; sang tháng Ba vẫn có một đợt rét muộn, dân gian gọi là rét nàng Bân, gắn với tích nàng Bân may áo rét cho chồng (câu chuyện được nhắc lại trong văn bản Tục ngữ và sáng tác văn chương cùng bài).
Câu 5. Người xưa nhìn độ cao của đàn chuồn chuồn để đoán thời tiết: bay thấp sắp mưa, bay cao trời nắng, bay lưng chừng thì trời râm mát. Một cách giải thích thường gặp là khi không khí ẩm, nặng hơi nước, các côn trùng nhỏ – thức ăn của chuồn chuồn – bay sà xuống thấp, kéo theo chuồn chuồn bay thấp.
Câu 6. Tháng Năm âm lịch rơi vào giữa mùa hè, đêm rất ngắn nên vừa đặt lưng đã thấy trời sáng; tháng Mười âm lịch đã sang đầu mùa đông, ngày rất ngắn nên chưa kịp làm gì trời đã tối. Hiện tượng này có cơ sở khoa học: do trục Trái Đất nghiêng, ở Bắc bán cầu, vào mùa hè ban ngày kéo dài còn ban đêm rút ngắn, mùa đông thì ngược lại. Lối nói phóng đại “chưa nằm”, “chưa cười” vừa dí dỏm vừa dễ nhớ, nhắc con người biết tranh thủ thời gian.
Đặc điểm hình thức của các câu tục ngữ
| Câu | Số chữ | Số dòng | Số vế | Vần |
|---|---|---|---|---|
| 1 | 8 | 1 | 2 | trưa – mưa |
| 2 | 8 | 1 | 2 | hạn – tán |
| 3 | 8 | 1 | 2 | may – bay |
| 4 | 13 | 1 | 3 | đài – Hai |
| 5 | 14 | 2 (lục bát) | 3 | mưa – vừa |
| 6 | 14 | 2 | 2 | Năm – nằm, Mười – cười |
Các câu chủ yếu gieo vần lưng (vần nằm giữa câu), các vế thường đối nhau cân xứng. Riêng câu 5 mang dáng dấp một cặp lục bát, dòng sáu chữ, dòng tám chữ, khác hẳn những câu một dòng còn lại.
Giá trị nội dung
Văn bản cho thấy những kinh nghiệm quý của nhân dân trong việc quan sát trời đất: đoán nắng, mưa, bão, nhận ra quy luật rét và ngày đêm theo mùa. Những kinh nghiệm ấy giúp người lao động chủ động sắp xếp công việc, phòng tránh thiên tai. Tuy vậy, chúng được rút ra chủ yếu từ quan sát nên chỉ đúng một cách tương đối; ngày nay ta cần kết hợp với dự báo khí tượng khoa học.
Giá trị nghệ thuật
- Câu chữ ngắn gọn, hàm súc; nhiều câu chỉ tám chữ mà chứa trọn một kinh nghiệm.
- Gieo vần lưng, nhịp cân đối, các vế đối xứng, dễ thuộc, dễ nhớ.
- Hình ảnh gần gũi với đời sống nông thôn: trăng, gió heo may, chuồn chuồn, lộc non.
- Cách nói phóng đại, dí dỏm (câu 6) tạo ấn tượng mạnh.
Sơ đồ tư duy Những kinh nghiệm dân gian về thời tiết
Toàn bộ kiến thức cần nhớ về chùm tục ngữ được tóm lại trong sơ đồ sau.

Lời kết
Khi học Những kinh nghiệm dân gian về thời tiết, em cần nhớ: tác giả dân gian; các câu được chọn từ Kho tàng tục ngữ người Việt và Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam; thể loại tục ngữ; sáu câu chia hai nhóm (dự báo nắng mưa bão; quy luật thời gian và mùa); hình thức ngắn gọn, có vần lưng, có vế đối. Hiểu nghĩa từng câu sẽ giúp em làm tốt phần câu hỏi SGK và bài văn nghị luận về một câu tục ngữ ở cuối Bài 7.
Xem thêm: