Bài soạn Bàn luận về phép học (Nguyễn Thiếp) dưới đây trả lời 5 câu Đọc – hiểu và câu Luyện tập ở trang 78 sách Ngữ văn 8 tập hai chương trình cũ, Bài 25. Đây là bài tấu ngắn nhưng chứa nhiều tư tưởng tiến bộ về việc học, rất hợp để các em liên hệ với cách học của chính mình. Các bài học khác của khối 8 có tại chuyên mục Ngữ văn lớp 8.
Tìm hiểu chung về văn bản Bàn luận về phép học
Một vài thông tin về tác giả, hoàn cảnh và bố cục giúp em hiểu đúng giọng điệu của bài tấu.

Tác giả Nguyễn Thiếp
Nguyễn Thiếp (1723 – 1804), tự Khải Xuyên, hiệu Lạp Phong cư sĩ, được người đương thời tôn là La Sơn Phu Tử; ông người huyện La Sơn (nay thuộc Hà Tĩnh). Ông từng ra làm quan thời Lê, sau xin về quê dạy học. Vua Quang Trung nhiều lần mời ông ra giúp nước; năm 1791, nhà vua lập Sùng chính Thư viện và giao ông làm Viện trưởng, lo việc dịch sách, giáo dục.
Hoàn cảnh ra đời, thể loại
- Hoàn cảnh: bài viết là phần trích trong bản tấu dâng lên vua Quang Trung tháng 8 năm 1791, dịp Nguyễn Thiếp được mời vào kinh đô Phú Xuân bàn việc nước. Nhan đề gốc chữ Hán là Luận học pháp.
- Thể loại: tấu, loại văn thư bề tôi gửi lên vua để trình bày ý kiến, đề nghị; thuộc văn nghị luận trung đại.
Bố cục 3 phần
- Phần 1 (từ đầu đến câu nói về nạn nước mất nhà tan): mục đích chân chính của việc học và phê phán lối học sai lệch.
- Phần 2 (tiếp theo đến lời xin nhà vua đừng bỏ qua): những chính sách khuyến khích việc học và phép học đúng.
- Phần 3 (phần cuối): lợi ích của nền học chân chính với quốc gia.
Hướng dẫn soạn bài Bàn luận về phép học: Đọc – hiểu văn bản
Cả năm câu hỏi đều ở trang 78; dưới mỗi đề là phần trả lời gợi ý.
Câu 1: Mục đích chân chính của việc học (trang 78)
Phần đầu tác giả nêu khái quát mục đích chân chính của việc học. Mục đích đó là gì?
Trả lời:
Mở bài, tác giả dẫn câu châm ngôn: “Ngọc không mài, không thành đồ vật; người không học, không biết rõ đạo”. Theo ông, đạo chính là cách cư xử giữa người với người trong cuộc sống hằng ngày, và đi học là để học điều ấy. Vậy học trước hết là để làm người, hiểu và sống đúng đạo lí trong quan hệ với mọi người, chứ không phải để mưu cầu công danh, lợi lộc. Cách dùng hình ảnh so sánh quen thuộc giúp một ý trừu tượng trở nên dễ hiểu, dễ nhớ.
Câu 2: Phê phán lối học lệch lạc và tác hại (trang 78)
Tác giả đã phê phán những lối học lệch lạc, sai trái nào? Tác hại của lối học ấy là gì?
Trả lời:
- Lối học bị phê phán: học theo lối hình thức, chỉ cốt thuộc lòng câu chữ để thi cử đỗ đạt, mong được danh lợi; quên mất những đạo lí căn bản về quan hệ giữa người với người.
- Tác hại: người học không có thực chất; trong triều thì vua chúa tầm thường, bề tôi xu nịnh; rốt cuộc đất nước suy vong, gia đình li tán. Tác giả chỉ rõ nguyên nhân sâu xa của sự suy vong là ở chính lối học sai lầm.
Câu 3: Chính sách khuyến khích việc học (trang 78)
Để khuyến khích việc học, Nguyễn Thiếp khuyên vua Quang Trung thực hiện những chính sách gì?
Trả lời:
- Mở rộng việc học: nhà vua ban chiếu để mọi trường ở phủ, huyện và trường tư được mở; con em quan văn, quan võ, cả những người từng làm việc ở các trấn thời trước đều được đi học, ở đâu thuận thì học ở đó. Việc học trở nên rộng khắp, không phân biệt.
- Định rõ phép dạy: theo Chu Tử; học tuần tự: trước học những điều cơ bản để làm nền, rồi tuần tự lên Tứ thư, Ngũ kinh, sử sách.
- Cách học: học rộng rồi tóm gọn lấy điều cốt lõi; học điều gì thì làm theo điều ấy.
Câu 4: Những phép học, tác dụng và liên hệ bản thân (trang 78)
Bài tấu có đoạn bàn về “phép học”, đó là những “phép học” nào? Tác dụng và ý nghĩa của những phép học ấy? Từ thực tế việc học của bản thân, em thấy phương pháp học tập nào là tốt nhất? Vì sao?
Trả lời:
- Các phép học: học từ gốc, từ những kiến thức nền tảng; học tuần tự, từ dễ đến khó; học nhiều nhưng biết rút ra điều cốt lõi; học đi đôi với hành.
- Tác dụng, ý nghĩa: giúp đào tạo những người vừa có tri thức vừa có đạo đức, có thể lập công với đất nước; khi có nhiều người hiền tài thì triều chính nghiêm minh, đất nước yên vui. Đây là những quan điểm tiến bộ, đến nay vẫn còn nguyên giá trị.
- Liên hệ: em thấy phương pháp tốt nhất là học chắc kiến thức cơ bản, học có hệ thống, luôn gắn với thực hành, vận dụng. Khi tự tay làm bài tập, thí nghiệm hay áp dụng vào đời sống, em hiểu sâu và nhớ lâu hơn nhiều so với học thuộc lòng.
Câu 5: Sơ đồ trình tự lập luận (trang 78)
Xác định trình tự lập luận của đoạn văn bằng một sơ đồ.
Trả lời:
Có thể trình bày sơ đồ theo các bước:
- Bước 1 – Mục đích của việc học: học để hiểu đạo lí, để làm người.
- Bước 2 – Phê phán lối học sai: học hình thức, cầu danh lợi → vua chúa kém cỏi, bề tôi xu nịnh → đất nước suy vong.
- Bước 3 – Đề xuất: mở rộng việc học cho mọi đối tượng; phép học: học từ gốc, tuần tự, học rộng tóm gọn, học đi đôi với hành.
- Bước 4 – Tác dụng: đạo học được xây dựng → nhiều người hiền tài → triều chính nghiêm minh → đất nước thái bình.
Lập luận đi từ mục đích, đến thực trạng, đến giải pháp và kết quả, chặt chẽ và rất thuyết phục.
Luyện tập (trang 78)
Câu Luyện tập yêu cầu em phân tích cách học mà Nguyễn Thiếp đặc biệt đề cao.
Câu 1: Sự cần thiết và tác dụng của phương pháp “học đi đôi với hành” (trang 78)
Phân tích sự cần thiết và tác dụng của phương pháp “học đi đôi với hành”.
Trả lời: (đoạn văn tham khảo)
Trả lời: (đoạn văn tham khảo) Hai việc này phải luôn đi cùng nhau. Nếu chỉ học mà không hành, kiến thức chỉ nằm trên trang giấy, dễ quên và không giúp được gì cho bản thân, xã hội; nếu chỉ hành mà không học, con người dễ làm theo cảm tính, mắc sai lầm. Khi học đi đôi với hành, ta vừa hiểu sâu lí thuyết vừa rèn được kĩ năng; thực hành còn giúp phát hiện chỗ còn hổng để quay lại học kĩ hơn. Một học sinh học công thức Vật lí rồi tự làm thí nghiệm, một bạn học tiếng Anh rồi mạnh dạn giao tiếp với người nước ngoài đều tiến bộ nhanh hơn hẳn. Vì thế, quan điểm của Nguyễn Thiếp từ hơn hai thế kỉ trước đến nay vẫn là bài học quý cho mọi người đi học.
Kết luận
Soạn bài Bàn luận về phép học, em cần nắm mục đích chân chính của việc học, những lối học bị phê phán, các chính sách và phép học Nguyễn Thiếp đề xuất (học từ gốc, tuần tự, học rộng tóm gọn, học đi đôi với hành) cùng lập luận chặt chẽ của bài tấu.
Xem thêm: