Phân tích Bàn luận về phép học của Nguyễn Thiếp là đề nghị luận văn học quen thuộc trong chương trình Ngữ văn 8 cũ (tập hai, Bài 25). Bài viết gồm dàn ý chi tiết và 5 bài văn mẫu: phân tích toàn văn bản, phân tích nghệ thuật lập luận và bàn về phương pháp học đi đôi với hành. Muốn xem thêm bài học lớp 8, em vào chuyên mục Ngữ văn lớp 8.
Tiểu sử Nguyễn Thiếp, hoàn cảnh ra đời, thể tấu và bố cục văn bản có ở bài Bàn luận về phép học (Nguyễn Thiếp): tác giả, tác phẩm, bố cục. Bản dịch trong sách giáo khoa rất ngắn và còn được bảo hộ, nên các bài mẫu chỉ trích vài câu then chốt.

Dàn ý phân tích Bàn luận về phép học
1. Mở bài
– Giới thiệu Nguyễn Thiếp (1723 – 1804), người đời gọi là La Sơn Phu Tử, nhà giáo được vua Quang Trung kính trọng.
– Giới thiệu văn bản: trích bài tấu dâng vua tháng 8 năm 1791; vấn đề đặt ra là mục đích và phương pháp học.
2. Thân bài
a. Học để làm gì
+ Lời vào đề là một châm ngôn: ngọc phải mài, người phải học; so sánh giàu hình ảnh, dễ hiểu.
+ Đạo được hiểu là cách sống, cách cư xử đúng đắn với mọi người quanh mình ⇒ học để làm người, để biết sống cho phải đạo.
b. Chê trách cách học sai đường
+ Lối học hình thức, chạy theo danh lợi, bỏ quên đạo đức.
+ Hậu quả: vua chúa tầm thường, quan lại xu nịnh, dẫn tới nước mất nhà tan ⇒ lời phê phán thẳng thắn, sâu sắc.
c. Ai được học và học theo phép nào
+ Đối tượng: từ học trò trường công, trường tư ở các phủ huyện đến con cháu nhà quan, nhà tướng, thậm chí những viên lại từng làm việc dưới triều trước.
+ Phương pháp: theo Chu Tử; vững cái gốc (tiểu học) rồi mới tiến dần (tứ thư, ngũ kinh, chư sử); học rộng rồi tóm gọn; học gắn với hành.
d. Ích lợi khi việc học đi đúng đường
+ Người hiền đông đúc, việc triều ngay thẳng, đất nước yên ổn, hưng thịnh ⇒ học là nền tảng của sự hưng thịnh quốc gia.
e. Nghệ thuật
+ Lập luận chặt chẽ theo bốn bước (học để làm gì → học đang sai ra sao → sửa thế nào → được gì); lí lẽ rõ ràng; lời lẽ khiêm nhường mà thẳng thắn đúng thể tấu.
3. Kết bài
– Khẳng định tầm nhìn tiến bộ của Nguyễn Thiếp; ý nghĩa với học sinh hôm nay.
Phân tích Bàn luận về phép học ngắn gọn – mẫu 1
Việc học bao giờ cũng là chuyện lớn của mỗi quốc gia. Hơn hai trăm năm trước, La Sơn Phu Tử Nguyễn Thiếp đã bày tỏ những suy nghĩ sâu sắc về điều ấy trong bài tấu dâng vua Quang Trung, phần được trích trong sách giáo khoa mang tên Bàn luận về phép học.
Ngay câu đầu, tác giả dẫn lời người xưa: “Ngọc không mài, không thành đồ vật; người không học, không biết rõ đạo”. Viên ngọc quý phải qua mài giũa mới thành đồ dùng đẹp, con người phải học mới hiểu đạo lí. Ông cho rằng đạo không ở đâu xa, nó nằm trong cách ta đối đãi với mọi người mỗi ngày. Bởi thế, việc học trước tiên nhằm dạy ta làm người.
Tiếp đó, Nguyễn Thiếp chê trách lối học chuộng hư văn, cốt kiếm danh lợi, vốn đang lan tràn. Người học chỉ lo đỗ đạt mà quên đạo đức, khiến vua thì kém cỏi, quan thì a dua, đất nước rơi vào cảnh loạn lạc. Lời phê phán thẳng thắn cho thấy ông rất đau lòng trước thực trạng ấy.
Từ đó, tác giả đề xuất cho người ở nhiều nơi, nhiều tầng lớp đều được đi học. Theo ông, phải học cái căn bản trước, rồi nâng dần lên, học rộng rồi biết tóm lại cho gọn, và đặc biệt là học xong phải biết làm. Khép lại, ông cho rằng một khi nền học đi đúng hướng, nhân tài sẽ đông, triều chính vững vàng, đất nước hưng thịnh.
Với lập luận chặt chẽ, lời lẽ chân thành, bài tấu cho thấy tầm nhìn tiến bộ của Nguyễn Thiếp. Những quan điểm ấy vẫn rất đáng để học sinh chúng em suy ngẫm hôm nay.
Phân tích văn bản Bàn luận về phép học của Nguyễn Thiếp – mẫu 2
Năm 1791, sau khi đánh tan quân Thanh, vua Quang Trung bắt tay vào việc xây dựng đất nước và đặc biệt quan tâm đến giáo dục. Đáp lại tấm lòng của nhà vua, Nguyễn Thiếp, người được các sĩ phu đương thời tôn là La Sơn Phu Tử, đã dâng lên một bài tấu bàn về việc học. Phần trích trong sách giáo khoa, Bàn luận về phép học, chỉ dài vài đoạn nhưng chứa đựng những quan niệm giáo dục rất tiến bộ.
Trước hết, tác giả trả lời câu hỏi: con người học để làm gì? Ông vào đề bằng lời răn quen thuộc của người xưa: “Ngọc không mài, không thành đồ vật; người không học, không biết rõ đạo”. Câu nói được xây dựng theo lối song hành, đặt viên ngọc cạnh con người. Ngọc dù quý mà không mài giũa thì vẫn chỉ là hòn đá thô; người dù thông minh mà không học thì không hiểu được đạo lí. Liền sau đó, ông làm rõ chữ đạo: ấy là cách con người cư xử với nhau trong sinh hoạt thường nhật. Cách giải thích ấy rất giản dị, gần gũi, khiến ai cũng hiểu được. Như vậy, đích đến của việc học đã rõ: học để thành người tử tế, biết cư xử đúng mực, chứ không phải học để khoe chữ hay để làm quan.
Tiếp theo, Nguyễn Thiếp thẳng thắn nhìn vào hiện trạng của nền học nước nhà. Theo ông, đã lâu lắm cái học chân chính không còn được truyền lại; người đi học chạy theo hư văn, chỉ mong đỗ đạt để có danh có lợi, mà quên đi những chuẩn mực đạo đức căn bản. Hậu quả thật nặng nề: kẻ đứng đầu thì tầm thường, kẻ bề tôi thì chỉ biết nịnh bợ, đất nước vì thế mà rối ren, tan nát. Lời lẽ ở đây rất mạnh. Dám nói với nhà vua rằng nước mất nhà tan bắt nguồn từ cái học lệch lạc, Nguyễn Thiếp đã thể hiện sự dũng cảm và tấm lòng trung thực của một trí thức lo cho vận nước.
Sau khi phê phán, tác giả nêu ra những đề xuất cụ thể. Về phạm vi, ông xin nhà vua xuống chiếu để học trò trường công, trường tư ở khắp phủ huyện, con cháu nhà quan, nhà tướng, thậm chí những viên lại từng phục vụ triều trước ở các trấn, ai cũng được đến trường, gần đâu học đó. Đây là ý tưởng mở rộng giáo dục rất tiến bộ, hướng tới việc nâng cao dân trí cho nhiều tầng lớp. Về phương pháp, ông chủ trương dạy theo Chu Tử: lúc đầu học những điều cơ bản để vun gốc, rồi tuần tự học lên tứ thư, ngũ kinh, chư sử. Học phải rộng nhưng biết tóm lược cho gọn, và quan trọng nhất là phải đem điều đã học ra thực hành. Đó chính là tư tưởng học đi đôi với hành, một phương pháp mà đến nay ta vẫn coi là chuẩn mực.
Cuối cùng, Nguyễn Thiếp nêu tác dụng to lớn của việc học chân chính. “Đạo học thành thì người tốt nhiều”; có nhiều người tốt, triều chính sẽ ngay thẳng, đất nước được yên ổn, hưng thịnh. Lập luận theo kiểu bắc cầu này cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa giáo dục và sự hưng thịnh của quốc gia. Giáo dục không phải chuyện riêng của mỗi người mà là nền móng của cả dân tộc.
Về nghệ thuật, văn bản có lập luận rất chặt chẽ: nói rõ học để làm gì, chỉ ra cái học đang sai, nêu cách sửa, rồi nói đến kết quả. Lời văn ngắn gọn, mạch lạc, vừa khiêm tốn vừa thẳng thắn, đúng với thể tấu của bề tôi dâng lên vua. Những câu kết thể hiện sự kính cẩn mà không mất đi khí phách của một nhà nho chân chính.
Bàn luận về phép học thể hiện tầm nhìn xa và tấm lòng vì nước của Nguyễn Thiếp. Đọc văn bản, em hiểu rằng học không chỉ để có kiến thức mà còn để trở thành người tốt, và phải biết vận dụng điều đã học vào cuộc sống.
Phân tích nghệ thuật lập luận trong Bàn luận về phép học – mẫu 3
Một bài văn nghị luận thuyết phục được người đọc không chỉ nhờ ý tưởng hay mà còn nhờ cách sắp xếp lí lẽ chặt chẽ. Bàn luận về phép học của Nguyễn Thiếp là một ví dụ tiêu biểu. Dù chỉ là đoạn trích ngắn từ bài tấu dâng vua Quang Trung, văn bản vẫn cho thấy một nghệ thuật lập luận rất mẫu mực.
Trước hết là trình tự lập luận hợp lí. Tác giả trước hết nói học nhằm điều gì, sau đó soi vào những lệch lạc đang có, tiếp theo đưa ra giải pháp, và kết thúc bằng tác dụng của giải pháp. Bốn bước ấy nối tiếp nhau như những bậc thang, bậc trước làm nền cho bậc sau. Người đọc đi theo mạch ấy một cách tự nhiên và dễ dàng chấp nhận kết luận.
Thứ hai là cách mở đầu bằng một câu châm ngôn. Hình ảnh viên ngọc phải được mài vừa cụ thể vừa giàu sức gợi, khiến một ý niệm khó nắm bắt bỗng gần gũi. Ngay sau đó, tác giả giải thích khái niệm đạo bằng một câu ngắn gọn, rõ ràng. Cách vào đề này vừa có sức nặng của kinh nghiệm người xưa, vừa gần gũi với mọi người.
Thứ ba là sự kết hợp giữa phê phán và đề xuất. Nguyễn Thiếp không dừng ở việc chê cái học hỏng mà còn chỉ ra hậu quả cụ thể của nó, rồi đưa ra con đường sửa chữa. Lối học hình thức bị đặt đối lập với lối học chân chính; hậu quả nước mất nhà tan bị đặt đối lập với cảnh thiên hạ thịnh trị. Sự đối lập ấy khiến người đọc thấy rõ phải chọn con đường nào.
Thứ tư là phép lập luận bắc cầu ở phần cuối: việc học thành công kéo theo người hiền đông đúc, người hiền đông đúc thì triều chính ngay thẳng, triều chính ngay thẳng thì nước nhà hưng thịnh. Mỗi vế là hệ quả của vế trước, tạo nên một chuỗi logic chặt chẽ.
Cuối cùng là giọng điệu. Thể tấu đòi hỏi bề tôi phải kính cẩn với vua, nên lời văn của Nguyễn Thiếp rất khiêm nhường. Nhưng sự khiêm nhường ấy không làm mất đi tính thẳng thắn: ông vẫn dám nói thẳng những tệ hại của nền học cũ. Sự hài hòa giữa kính cẩn và thẳng thắn làm bài tấu vừa đúng phép, vừa có sức thuyết phục.
Nhờ nghệ thuật lập luận ấy, những tư tưởng giáo dục của Nguyễn Thiếp được trình bày rõ ràng, có sức nặng. Học văn bản, em cũng rút ra cho mình bài học khi viết văn nghị luận: phải có mục đích rõ, lí lẽ chặt, sắp xếp hợp lí.
Phân tích Bàn luận về phép học (bài học sinh giỏi) – mẫu 4
Trong lịch sử giáo dục Việt Nam, có những người thầy mà tên tuổi gắn liền với khát vọng chấn hưng nền học nước nhà. Chu Văn An đời Trần là một người như thế, và Nguyễn Thiếp cuối thế kỉ XVIII cũng vậy. Bài tấu ông dâng vua Quang Trung năm 1791, mà phần trích được đặt tên Bàn luận về phép học, cho thấy một tư duy giáo dục vượt lên trên thời đại.
Điểm đáng quý trước tiên là Nguyễn Thiếp đặt đạo đức làm gốc của việc học. Câu châm ngôn ông dẫn ra so sánh con người với viên ngọc: ngọc phải mài mới thành đồ quý, người phải học mới hiểu đạo. Theo ông, đạo chẳng phải điều gì cao xa, nó chỉ là cách ta cư xử với những người quanh mình mỗi ngày. Như vậy, đối với ông, giáo dục trước hết là giáo dục nhân cách. Một người học giỏi mà cư xử tệ thì chưa thể coi là người có học. Quan niệm này đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự, khi nhà trường luôn nhấn mạnh việc dạy làm người song song với dạy chữ.
Điểm đáng quý thứ hai là sự tỉnh táo khi nhìn vào thực trạng. Nguyễn Thiếp không ngại nói rằng cái học chân chính đã mai một từ lâu, người đi học chỉ mong có danh có lợi. Ông chỉ ra mối liên hệ trực tiếp giữa lối học ấy và sự suy vong của đất nước: khi người học chỉ cốt có danh, thì người cầm quyền tầm thường, kẻ dưới chỉ biết xu nịnh, và vận nước vì thế mà nghiêng đổ. Nói những điều ấy với một vị vua là việc không dễ dàng. Em cảm phục sự trung thực và lòng can đảm của tác giả.
Điểm đáng quý thứ ba là những đề xuất cụ thể, thiết thực. Ông muốn giáo dục được mở rộng đến nhiều nơi, nhiều đối tượng, từ trường công ở phủ, huyện đến trường tư, từ con cháu nhà quan cho tới những viên lại cũ ở các địa phương. Đó là tư tưởng phổ cập giáo dục từ rất sớm. Về phương pháp, ông đề cao lối học có hệ thống: vững gốc rồi mới vươn cao; đọc nhiều nhưng biết chắt lọc cho gọn; và nhất là học phải gắn với hành. Lời dặn học xong phải làm theo điều đã học tuy ngắn gọn mà sâu sắc. Học mà không làm thì kiến thức chỉ nằm trên giấy; làm mà không học thì dễ mò mẫm, sai lầm. Chỉ khi học và hành đi cùng nhau, con người mới thật sự trưởng thành.
Điểm thứ tư là niềm tin vào sức mạnh của giáo dục. Câu “Đạo học thành thì người tốt nhiều” mở đầu một chuỗi lập luận dẫn tới cảnh triều chính ngay thẳng, muôn dân yên ổn. Trong suy nghĩ của Nguyễn Thiếp, giáo dục chính là nền móng của một quốc gia vững mạnh. Đây cũng là điều mà các nhà nước hiện đại đều thừa nhận khi coi giáo dục là quốc sách hàng đầu.
Về hình thức, bài tấu sáng sủa về bố cục, chắc chắn về lí lẽ; giọng văn khiêm cung mà thẳng thắn. Những câu kết với lời lẽ kính cẩn dâng lên nhà vua cho thấy đúng đặc trưng của thể tấu, nhưng nội dung bên trong thì không hề rụt rè.
Học xong Bàn luận về phép học, em tự hỏi mình đã học như thế nào. Có lúc em học chỉ để được điểm cao, học thuộc lòng mà không hiểu, hoặc biết mà không làm. Lời của Nguyễn Thiếp như một lời nhắc nhở: học để làm người, học có phương pháp, và học để làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn.
Phân tích phương pháp học đi đôi với hành qua Bàn luận về phép học – mẫu 5
Trong các phương pháp học mà Nguyễn Thiếp đề xuất ở bài tấu Bàn luận về phép học, có một phương pháp được nhắc đến nhiều nhất cho tới hôm nay: học đi đôi với hành. Chỉ bằng một câu ngắn trong văn bản, ông đã nêu ra nguyên tắc mà bao thế hệ người học vẫn coi là kim chỉ nam.
Học là quá trình tiếp nhận kiến thức qua sách vở, thầy cô, bạn bè. Hành là đem những kiến thức ấy áp dụng vào đời sống, vào công việc. Hai việc tưởng tách rời mà thật ra gắn bó mật thiết. Khi Nguyễn Thiếp khuyên người học phải làm theo những gì mình đã học, ông muốn nói rằng việc học chỉ thật sự có ý nghĩa khi được kiểm nghiệm và vận dụng trong thực tế.
Vì sao phương pháp ấy cần thiết? Trước hết, vì học mà không hành thì kiến thức dễ trở thành lí thuyết suông, nhanh quên và chẳng giúp ích gì khi bước vào đời. Một học sinh thuộc lòng công thức mà không giải được bài toán thực tế, một người đọc nhiều sách về đạo đức mà vẫn cư xử thiếu tử tế, đều là những ví dụ của lối học ấy. Còn làm mà thiếu hiểu biết thì dễ sai lầm, mất nhiều công sức mà kết quả không cao. Chỉ khi kết hợp cả hai, con người mới vừa hiểu sâu vừa làm giỏi.
Trong bối cảnh bài tấu, phương pháp này còn mang ý nghĩa phê phán. Lối học đương thời chạy theo hình thức, cốt để thi đỗ làm quan, nên người học thường chỉ chăm chăm thuộc chữ mà ít khi đem đạo lí vào cách sống. Nguyễn Thiếp muốn sửa lại điều đó: học đạo lí thì phải sống theo đạo lí, học kinh sử thì phải biết dùng để giúp nước.
Với học sinh chúng em hôm nay, lời khuyên ấy càng thiết thực. Học xong bài về môi trường thì biết tiết kiệm nước, phân loại rác; học xong một bài văn hay về tình mẹ thì biết thương mẹ hơn bằng những việc làm cụ thể. Như vậy, học không chỉ diễn ra trong lớp mà kéo dài suốt cuộc sống.
Phương pháp học đi đôi với hành mà Nguyễn Thiếp đề cao cho thấy ông là một nhà giáo có tư tưởng tiến bộ. Hơn hai thế kỉ đã trôi qua, lời khuyên ấy vẫn mới mẻ và đáng để mỗi người học ghi nhớ.
Kết luận
Khi phân tích Bàn luận về phép học, em cần bám bốn ý theo trình tự lập luận của tác giả: học để làm gì, cái học đang sai ở đâu, ai được học và học theo phép nào, nền học đúng đắn mang lại gì cho đất nước; sau đó nhận xét nghệ thuật lập luận và liên hệ bản thân. Vì văn bản ngắn, chỉ nên trích một vài câu then chốt.
Xem thêm: