Sĩ Vương là danh xưng tôn kính mà sử cũ và dân gian dành cho Sĩ Nhiếp (137–226), viên thái thú cai quản đất Giao Chỉ cuối thời Đông Hán, đầu thời Tam Quốc. Chữ “Sĩ” ở đây là họ của ông, không phải “kẻ sĩ”. Ai hỏi “Sĩ Vương là ai” thì câu trả lời là một người chưa từng xưng vua, nhưng vẫn được người đời sau gọi bằng tước vương.
| Nghĩa | Cách gọi tôn Sĩ Nhiếp, thái thú Giao Chỉ, như một bậc vương |
| Chữ Hán | 士王: Sĩ (họ Sĩ 士) + Vương (vua 王) |
| Thời điểm | Ông giữ Giao Châu khoảng bốn mươi năm, từ năm 187 đến khi mất năm 226 |
| Nơi thờ | Đền và lăng ở thôn Tam Á, vùng Thuận Thành (Bắc Ninh) |

Vì sao lại gọi là Sĩ Vương?
Sĩ Nhiếp, tự Ngạn Uy, giữ chức thái thú ở Giao Chỉ dưới triều Hán. Thời ấy Trung Hoa chìm trong loạn lạc cuối Đông Hán rồi chia ba thời Tam Quốc. Riêng vùng ông cai quản lại tương đối yên, nhiều người phương Bắc chạy loạn xuống nương nhờ, trong đó có không ít kẻ đọc sách. Ông vẫn giữ lễ triều cống với chính quyền phương Bắc, về sau phục tùng nhà Ngô của Tôn Quyền, nhờ vậy đất này tránh được binh đao trong mấy chục năm.
Chữ “vương” đến từ người đời sau. Khi soạn Đại Việt sử ký toàn thư ở thế kỷ XV, Ngô Sĩ Liên chép thời kỳ này thành một kỷ riêng mang tên ông rồi tôn xưng ông là Sĩ Vương. Ông còn khen rằng nước ta biết đến sách vở, lễ nhạc, thành một nước có văn hiến, là nhờ Sĩ Vương mở đầu. Ngoài dân gian, người địa phương lập miếu thờ, gọi là Tiên Sĩ Vương; đời Trần lại truy phong ông tước Đại Vương với mỹ hiệu bắt đầu bằng “Thiện Cảm Gia Ứng”.
Như vậy “vương” ở đây là tiếng tôn xưng và tước thần, không phải ngôi vua thật. Đó cũng là chỗ khiến danh xưng này bị bàn đi bàn lại.
Một danh xưng, hai luồng đánh giá
Không phải sử gia nào cũng đồng ý gọi ông là vương. Bộ Khâm định Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán triều Nguyễn bỏ cách chép kỷ riêng, lý do được nêu là Sĩ Nhiếp chỉ là quan được triều đình phương Bắc sai sang, chưa bao giờ xưng vương. Nhiều nhà nghiên cứu hiện nay cũng cho rằng tôn ông ngang hàng các bậc vua là quá lời.
Danh hiệu “ông tổ Nho học” cũng bị xem lại. Trước thời Sĩ Nhiếp, đất Giao Chỉ đã có người theo học chữ Hán; vì thế có ý kiến cho rằng ông chỉ là người khuyến khích việc học, nâng đỡ kẻ có chữ, chứ không phải người mở ra nền học. Đọc chữ Sĩ Vương trong sách vở, cách an toàn nhất là hiểu nó đúng như nó vốn là: một tôn xưng của sử cũ, phản ánh cách nhìn của nhà Nho thời trước về một viên quan cai trị có công giữ yên một vùng đất.
Khái niệm văn hiến mà Ngô Sĩ Liên dùng khi khen ông có gốc rất xa, có thể đọc thêm ở bài chữ văn hiến 文獻 từ Luận ngữ đến Bình Ngô đại cáo. Còn chuyện học thuyết của Khổng Tử theo chân quan lại phương Bắc vào đất Việt thế nào thì xem bài đạo Nho và dấu vết trong đời sống người Việt.
Sĩ Vương, Sĩ Nhiếp và những tên gọi dễ lẫn
| Tên gọi | Chỉ ai, nghĩa gì | Gặp ở đâu |
|---|---|---|
| Sĩ Nhiếp | Tên thật của nhân vật; họ Sĩ, tên Nhiếp | Sử sách, sách giáo khoa lịch sử |
| Sĩ Vương | Tôn xưng “vua họ Sĩ” do sử cũ đặt | Đại Việt sử ký toàn thư, văn bia |
| Tiên Sĩ Vương | Cách gọi khi thờ ông như một vị thần | Đền miếu, truyền thuyết địa phương |
| Nam Giao học tổ | “Ông tổ của việc học ở cõi Nam” | Bốn chữ trên cổng đền ở Tam Á |
Lỗi hay gặp nhất là hiểu “sĩ vương” như “vua của kẻ sĩ”. Chữ 士 tuy có nghĩa là học trò, người đọc sách, nhưng trong tên gọi này nó chỉ là họ. Cũng đừng nhầm ông với Triệu Đà, người từng thật sự xưng đế ở phương Nam; sử cũ hay đặt hai nhân vật này cạnh nhau chính vì một người xưng vua thật, một người thì không.
Người đi lễ đền Sĩ Nhiếp ở Thuận Thành sẽ thấy bốn chữ Nam Giao học tổ trên cổng. Bốn chữ ấy cùng với tiếng gọi Sĩ Vương là dấu vết rõ nhất của cách các nhà Nho xưa nhìn ông. Học sinh tiểu học cũng gặp niềm tự hào về truyền thống học hành ấy trong bài đọc Nghìn năm văn hiến lớp 5.
Sĩ Vương qua sử sách và đền thờ
Sĩ Vương là ai trong lịch sử Việt Nam?
Là Sĩ Nhiếp, thái thú Giao Chỉ thời Hán mạt, người giữ cho vùng đất này tương đối yên ổn suốt khoảng bốn mươi năm. Ông là quan cai trị của phương Bắc, không phải vua của người Việt.
Sĩ Nhiếp có xưng vương không?
Không. Chức của ông là thái thú, về sau được nhà Ngô phong tước hầu. Chữ “vương” do sử gia và dân gian đời sau tôn lên, và chính vì thế mà triều Nguyễn bỏ cách gọi này khi soạn lại sử.
Đền thờ Sĩ Vương ở đâu?
Nơi nổi tiếng nhất là đền và lăng Sĩ Nhiếp ở thôn Tam Á, vùng Thuận Thành, Bắc Ninh. Khu đền có lăng mộ phía sau và cổng đề bốn chữ Nam Giao học tổ.
Vì sao Sĩ Nhiếp được gọi là Nam Giao học tổ?
Vì các nhà Nho đời sau coi ông là người mở mang việc học chữ Hán ở phương Nam. Đây là cách đánh giá của nhà Nho; giới sử học hiện nay thận trọng hơn, cho rằng việc học đã có từ trước và ông chủ yếu là người khuyến khích.