Quốc hiệu là tên gọi chính thức của một nước, cái tên được ghi trong hiến pháp, dùng trong văn bản nhà nước và trong quan hệ ngoại giao. Quốc hiệu của Việt Nam hiện nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; trong lịch sử, nước ta từng mang nhiều quốc hiệu khác như Văn Lang, Đại Cồ Việt, Đại Việt, Đại Nam.
| Nghĩa ngắn | Tên gọi chính thức của một quốc gia |
| Gốc từ | Hán Việt 國號: quốc (nước) + hiệu (tên gọi, danh xưng) |
| Loại từ | Danh từ |
| Quốc hiệu Việt Nam hiện nay | Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (từ năm 1976) |
| Tiếng Anh | official name of a country; national title |

Quốc hiệu là tên khai sinh của một nước
Theo từ điển tiếng Việt, quốc hiệu là cái tên chính thức mà một nước dùng, với ví dụ Hùng Vương đặt quốc hiệu là Văn Lang. Wiktionary tiếng Việt cũng ghi “tên một nước” và dẫn một câu trong Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim nhắc rằng quốc hiệu nước ta đã đổi nhiều lần.
Hai chữ Hán ghép nên từ này đều quen. Quốc (國) là nước, một vùng đất có dân và có chủ quyền, như trong quốc gia, quốc kỳ, tổ quốc. Hiệu (號) là tên gọi, danh xưng, như trong danh hiệu, bút hiệu, niên hiệu. Quốc hiệu, vì vậy, là “danh hiệu của nước”, cái tên mà nhà nước tự xưng một cách chính thức.
Chữ “chính thức” là điểm mấu chốt. Người ta nói “Việt Nam” trong đời thường, nhưng trên trang đầu mọi văn bản hành chính, ở góc trên bên phải, dòng chữ in hoa đầu tiên là quốc hiệu đầy đủ, ngay dưới là tiêu ngữ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. Quy định về thể thức văn bản (Nghị định 30/2020/NĐ-CP về công tác văn thư) xếp quốc hiệu và tiêu ngữ là thành phần đầu tiên.
Quốc hiệu, niên hiệu, tiêu ngữ: đừng lẫn
| Từ | Là gì | Ví dụ |
|---|---|---|
| Quốc hiệu | Tên chính thức của nước | Đại Việt, Đại Nam, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam |
| Tên gọi thông dụng | Tên ngắn dùng hằng ngày | Việt Nam |
| Niên hiệu | Tên vua đặt cho thời gian trị vì của mình, dùng để tính năm | Gia Long, Quang Trung |
| Kinh đô, thủ đô | Nơi đặt triều đình, trung tâm chính trị | Hoa Lư, Thăng Long, Phú Xuân |
| Tiêu ngữ | Câu khẩu hiệu đi kèm quốc hiệu trên văn bản | Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Lỗi hay gặp nhất trong bài kiểm tra Sử là lẫn quốc hiệu với niên hiệu. Gia Long là niên hiệu của vua Nguyễn Ánh, còn quốc hiệu ông đặt là Việt Nam. Một cách nhớ đơn giản: quốc hiệu gắn với nước, niên hiệu gắn với năm và với một đời vua. Quốc hiệu cũng không phải tên một dân tộc; sự khác nhau giữa nước, dân tộc và tộc người được bàn kĩ ở bài phân biệt dân tộc với tộc người và quốc gia.
Các quốc hiệu trong lịch sử Việt Nam
Bảng dưới ghi tên nước Việt Nam qua các thời kỳ, chỉ gồm các quốc hiệu chính thường được nhắc trong sách sử phổ thông, không kể các tên gọi do phương Bắc đặt trong thời Bắc thuộc.
| Quốc hiệu | Thời điểm | Người đặt / triều đại |
|---|---|---|
| Văn Lang | Thời các vua Hùng | Hùng Vương |
| Âu Lạc | Thế kỉ III trước Công nguyên | An Dương Vương (Thục Phán) |
| Vạn Xuân | Năm 544 | Lý Nam Đế (Lý Bí) |
| Đại Cồ Việt | Năm 968 | Đinh Tiên Hoàng (Đinh Bộ Lĩnh) |
| Đại Việt | Năm 1054 | Lý Thánh Tông; dùng qua các triều Lý, Trần, Lê, Mạc, Tây Sơn |
| Đại Ngu | Năm 1400 | Hồ Quý Ly (nhà Hồ) |
| Việt Nam | Năm 1804 | Gia Long (nhà Nguyễn) |
| Đại Nam | Năm 1838 (có tài liệu ghi 1839) | Minh Mạng (nhà Nguyễn) |
| Việt Nam Dân chủ Cộng hòa | Năm 1945 | Sau Cách mạng tháng Tám |
| Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam | Ngày 2/7/1976 | Quốc hội khóa VI quyết định sau khi đất nước thống nhất |
Nhìn bảng sẽ thấy một điều thú vị: chữ Đại (lớn) xuất hiện liên tục từ Đại Cồ Việt, Đại Việt đến Đại Nam. Chữ Đại thường được hiểu là cách các triều đại tự khẳng định mình là một nước lớn, không kém phương Bắc. Đại Việt là quốc hiệu dùng lâu nhất, kéo dài đến năm 1804 tuy có gián đoạn dưới thời nhà Hồ và thời thuộc Minh.
Quốc hiệu trên trang văn
Văn học trung đại ghi lại ý thức về tên nước rất sớm. Ngay nhan đề đoạn trích Nước Đại Việt ta trích từ Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi đã mang quốc hiệu thời ấy; câu mở đầu đoạn trích nói về một nước có nền văn hiến lâu đời, có núi sông bờ cõi riêng, phong tục riêng. Muốn đọc kĩ cách Nguyễn Trãi lập luận về chủ quyền, xem bài soạn Nước Đại Việt ta Ngữ văn 8 Cánh diều.
Trước đó, bài thơ chữ Hán Nam quốc sơn hà gọi đất nước bằng hai chữ Nam quốc, nước Nam, đặt đối diện với phương Bắc. Đó chưa phải quốc hiệu, nhưng là một cách xưng danh đầy tự tôn. Phân tích bài thơ có ở trang tác phẩm Nam quốc sơn hà lớp 8.
Khi làm bài, nhớ viết hoa quốc hiệu theo cách dùng trong văn bản hành chính: Đại Cồ Việt viết hoa cả ba chữ, Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam chỉ viết hoa chữ đầu và tên riêng Việt Nam.
Những mốc tên nước học sinh hay được kiểm tra
Quốc hiệu đầu tiên của Việt Nam là gì?
Theo sử sách, quốc hiệu đầu tiên là Văn Lang, gắn với thời các vua Hùng, kinh đô ở Phong Châu (thuộc Phú Thọ ngày nay). Sau đó An Dương Vương đổi thành Âu Lạc.
Quốc hiệu Việt Nam hiện nay là gì?
Là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, được Quốc hội khóa VI quyết định ngày 2/7/1976, đổi từ tên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tên ngắn dùng thông thường là Việt Nam.
Quốc hiệu nào tồn tại lâu nhất?
Đại Việt. Quốc hiệu này có từ năm 1054 đời Lý Thánh Tông và dùng đến năm 1804, chỉ gián đoạn thời nhà Hồ (Đại Ngu) và hai mươi năm thuộc Minh.
Quốc hiệu khác quốc kỳ, quốc ca ra sao?
Ba thứ cùng là biểu tượng của nhà nước nhưng ở ba dạng khác nhau: quốc hiệu là tên, quốc kỳ là lá cờ, quốc ca là bài hát. Chữ “quốc” đứng đầu cả ba vì đều thuộc về nước.