Câu khiến nhiều học sinh lúng túng nhất trong phần Ôn tập học kì II Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo là câu 4: sách in tám dòng thơ Huyền diệu của Xuân Diệu rồi hỏi đoạn thơ có yếu tố tượng trưng hay không. Chín câu còn lại đi lần lượt qua những gì tập hai đã dạy: truyện thơ Nôm và Nguyễn Du, thơ tượng trưng, truyện ngắn, truyện kí, bốn kiểu bài viết, bốn mảng tiếng Việt, và kết lại bằng một đoạn văn 200–300 chữ. Toàn bộ phần ôn nằm gọn ở trang 105–106, sách gọi là Ôn tập cuối học kì II. Bài này giải đủ 10 câu theo đúng đề trong sách, kèm bảng tra văn bản bốn bài học (Bài 6 đến Bài 9) có đường dẫn sang bài soạn, vài lưu ý khi ôn và một đề kiểm tra tự soạn có đáp án, dùng một đoạn trích Lục Vân Tiên làm ngữ liệu. Mục lục cả bộ sách xem ở trang Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo.

Soạn bài Ôn tập học kì II Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo (trang 105–106)
Sách không chia mục nhỏ. Có thể tự gom 10 câu thành ba nhóm để ôn cho nhanh: câu 1–7 hỏi về thể loại và văn bản đọc, câu 8 hỏi về kiểu bài viết, câu 9 về tiếng Việt, câu 10 là bài tập viết ngắn. Học kì II của bộ sách gồm bốn bài: Sống với biển rừng bao la (truyện ngắn), Những điều trông thấy (truyện thơ Nôm và Nguyễn Du), Cái tôi – thế giới độc đáo (thơ có yếu tố tượng trưng) và Những chân trời kí ức (truyện, truyện kí). Riêng truyện thơ dân gian được nhắc lại từ học kì I.
Nhóm câu về thể loại và văn bản đọc (câu 1–7)
Câu 1 (trang 105): Nối tên thể loại ở cột A với đặc điểm ở cột B và giải thích
Kẻ vào vở hai cột A, B theo mẫu dưới đây, sau đó nối tên thể loại ở cột A với đặc điểm phù hợp được nêu ở cột B; giải thích lí do bạn tạo ra các đường nối giữa hai cột A và B. (Cột A: Truyện thơ Nôm bình dân; Truyện ngắn; Truyện thơ Nôm bác học; Truyện thơ dân gian; Thơ có yếu tố tượng trưng; Truyện kí. Cột B gồm bảy đặc điểm.)
Trả lời:
Cột A có sáu thể loại, cột B có bảy đặc điểm. Thừa ra một ô là đặc điểm đầu tiên của cột B (“không có cốt truyện; giàu tính trữ tình và tính nhạc”): đó là nét chung của thơ trữ tình, đúng với thơ tượng trưng nhưng chưa phải chỗ phân biệt thơ tượng trưng với các kiểu thơ khác. Mẹo làm bài: nối trước những ô có “từ khoá” riêng (Nho học, miền núi, khuyết danh, giữa truyện và kí), ô còn lại sẽ tự lộ ra.
| Cột A | Đặc điểm nối được ở cột B | Căn cứ để nối |
|---|---|---|
| Truyện thơ Nôm bình dân | thường khuyết danh, chủ yếu lưu hành trong dân gian, phản ánh cuộc sống và khát vọng của người dân tầng lớp dưới, ngôn ngữ giản dị | Chữ “bình dân” chỉ người sáng tác và người thưởng thức: không rõ tác giả, nói chuyện của người lao động bằng lời mộc. Ví dụ: Quan Âm Thị Kính (đoạn Thị Kính nuôi con cho Thị Mầu), Phạm Công – Cúc Hoa. |
| Truyện ngắn | tự sự hư cấu, dung lượng nhỏ, đọc hết trong một lần, ít nhân vật và sự kiện, tập trung vào một khía cạnh của đời sống | Muối của rừng chỉ kể một buổi đi săn của ông Diểu; Chiều sương xoay quanh một câu chuyện đi biển được kể lại trong một buổi chiều. |
| Truyện thơ Nôm bác học | do trí thức Nho học có tên tuổi sáng tác, chủ yếu lưu hành trong giới trí thức, phản ánh số phận và nhu cầu của giới trí thức, nghệ thuật cao | Truyện Kiều của Nguyễn Du, Bích Câu kì ngộ (tương truyền của Vũ Quốc Trân) đều có tác giả là nhà nho, ngôn ngữ nhiều điển cố, câu thơ trau chuốt. |
| Truyện thơ dân gian | văn vần, đề tài tình yêu – hôn nhân, kết hợp tự sự với trữ tình, gần ca dao, dân ca, phát triển nhiều ở các dân tộc miền núi | Lời tiễn dặn trích truyện thơ Tiễn dặn người yêu của dân tộc Thái: chuyện tình bị ngăn trở, lời kể đan với lời than như dân ca. |
| Thơ có yếu tố tượng trưng | diễn tả thế giới nội tâm qua chi tiết, hình ảnh gợi cảm, kết hợp cảm nhận của nhiều giác quan, có khi đi sâu vào vấn đề triết học | Nguyệt cầm để trăng, tiếng đàn, nỗi buồn thấm vào nhau; Thời gian của Văn Cao chạm tới câu hỏi về cái mất và cái còn. |
| Truyện kí | trung gian giữa truyện và kí, kết hợp hư cấu và phi hư cấu | Ngôi nhà tranh của cụ Phan Bội Châu ở Bến Ngự kể về người thật, nơi thật nhưng có những chi tiết, lời thoại được dựng lại bằng tưởng tượng. |
Câu 2 (trang 105): Điểm khác biệt giữa truyện thơ dân gian và truyện thơ Nôm
Nêu một số điểm khác biệt giữa truyện thơ dân gian và truyện thơ Nôm, minh hoạ bằng các dẫn chứng lấy từ các văn bản đã học.
Trả lời:
Hai thể loại cùng kể chuyện bằng thơ, cùng ưa đề tài tình yêu và số phận con người, nhưng đi ra từ hai môi trường rất khác nhau.
| Phương diện | Truyện thơ dân gian | Truyện thơ Nôm |
|---|---|---|
| Người sáng tác, đời sống tác phẩm | Tập thể, truyền miệng, có nhiều dị bản; gắn với sinh hoạt của một cộng đồng dân tộc thiểu số (Thái, Mường, Tày…). | Phần lớn có tác giả (bác học) hoặc khuyết danh nhưng được chép thành văn bản (bình dân); lưu hành bằng sách chữ Nôm, người đọc ngâm, kể lại. |
| Ngôn ngữ, thể thơ | Thơ dân tộc, khi dịch ra tiếng Việt thường là câu thơ tự do, nhiều điệp ngữ, so sánh bằng hình ảnh núi rừng. | Chữ Nôm, chủ yếu lục bát; dòng bác học dùng nhiều điển cố, từ Hán Việt, phép đối. |
| Cốt truyện, nhân vật | Cốt truyện đơn giản, xoay quanh đôi lứa yêu nhau bị ngăn cách; nhân vật thường là người nghèo, mồ côi. | Cốt truyện dài hơn, hay đi qua ba chặng gặp gỡ, lưu lạc, đoàn tụ; nhân vật đa dạng, có khi là tài tử – giai nhân, có đời sống nội tâm phức tạp. |
| Dẫn chứng | Lời tiễn dặn: chàng trai tiễn người yêu về nhà chồng, lời dặn dò lặp đi lặp lại, cảnh vật rừng núi làm nền cho nỗi đau. | Trao duyên: Kiều nhờ Thuý Vân thay mình trả nghĩa Kim Trọng; diễn biến tâm trạng được đẩy tới độc thoại nội tâm, nhiều thành ngữ, điển tích (keo loan, phím đàn, mảnh hương nguyền). |
Câu 3 (trang 106): Con người, cuộc đời Nguyễn Du và đóng góp của Truyện Kiều
Nêu một số điểm nổi bật về con người, cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Nguyễn Du. Theo bạn, với Truyện Kiều, Nguyễn Du đã có những đóng góp gì trong việc phát triển thể loại truyện thơ Nôm của dân tộc?
Trả lời:
Con người và cuộc đời. Nguyễn Du (1765–1820), tên chữ Tố Như, hiệu Thanh Hiên, quê làng Tiên Điền, huyện Nghi Xuân, Hà Tĩnh. Ông sinh trong một gia đình đại quý tộc có truyền thống khoa bảng, nhưng mồ côi cha mẹ từ nhỏ. Tuổi trẻ gặp lúc nhà Lê – Trịnh sụp đổ, ông sống nhiều năm phiêu bạt, có thời gian về quê vợ ở Thái Bình rồi về Hồng Lĩnh. Sau 1802 ông ra làm quan với nhà Nguyễn, từng đi sứ Trung Quốc (1813–1814). Những năm long đong giúp ông hiểu tận cùng nỗi khổ của người dân và những kiếp người tài hoa bạc mệnh. Năm 2015, nhân dịp 250 năm ngày sinh, ông được UNESCO đưa vào danh sách kỉ niệm danh nhân văn hoá.
Sự nghiệp văn chương. Về chữ Hán, ông để lại ba tập thơ: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, Bắc hành tạp lục (bài Độc Tiểu Thanh kí đã học thuộc mảng này). Về chữ Nôm có Đoạn trường tân thanh (quen gọi Truyện Kiều, 3254 câu lục bát), Văn tế thập loại chúng sinh và một số bài khác. Tư tưởng xuyên suốt là chữ “tâm”: thương người, nhất là phụ nữ và người tài bị vùi dập.
Đóng góp của Truyện Kiều cho truyện thơ Nôm:
- Chuyển trọng tâm từ kể việc sang tả người. Dựa trên cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân, Nguyễn Du lược bớt nhiều sự việc, dành chỗ cho nội tâm. Đoạn Trao duyên gần như không có hành động, chỉ có lời nói và những biến chuyển trong lòng Kiều.
- Nhân vật có tính cách riêng. Kiều, Hoạn Thư, Tú Bà, Sở Khanh mỗi người một giọng nói, một lối hành xử; cảnh Thuý Kiều hầu rượu Hoạn Thư – Thúc Sinh cho thấy cái ghen sâu sắc, có tính toán của Hoạn Thư.
- Đưa lục bát và tiếng Việt văn học lên đỉnh cao. Câu lục bát nhuần nhuyễn, kết hợp từ thuần Việt, thành ngữ, ca dao với điển cố Hán học; tả cảnh ngụ tình đạt độ tinh tế hiếm có.
- Nâng tầm tư tưởng. Từ một chuyện tình tài tử – giai nhân, tác phẩm trở thành tiếng kêu về số phận con người trong xã hội đồng tiền. Sau Truyện Kiều, truyện thơ Nôm có một chuẩn mực để các tác giả sau học theo.
Câu 4 (trang 106): Yếu tố tượng trưng trong đoạn thơ Huyền diệu
Bạn hiểu thế nào là yếu tố tượng trưng trong thơ trữ tình? Theo bạn, đoạn thơ sau có yếu tố tượng trưng không? Dựa vào những dấu hiệu nào để khẳng định như vậy?
Này lắng nghe em khúc nhạc thơm
Say người như rượu tối tân hôn;
Như hương thấm tận qua xương tuỷ,
Âm điệu, thần tiên, thấm tận hồn.
(…bốn dòng tiếp theo xem SGK trang 106; Xuân Diệu, Huyền diệu)
Trả lời:
Yếu tố tượng trưng trong thơ trữ tình là cách nhà thơ không gọi thẳng tên cảm xúc mà để cho hình ảnh, âm thanh, màu sắc, hương vị gợi ra nó. Có ba dấu hiệu hay gặp: các giác quan “chuyển” sang nhau (nghe thấy mùi, ngửi thấy nhạc); hình ảnh mờ ảo, mang nhiều nghĩa, không chỉ một vật cụ thể; nhạc tính đậm, câu thơ như được viết để ngân lên hơn là để kể.
Đoạn thơ có yếu tố tượng trưng, nhận ra qua mấy dấu hiệu:
- Tương giao cảm giác. Khúc nhạc lại “thơm”, nghĩa là âm thanh mang mùi hương; tiếng nhạc làm “say” như rượu (vị giác) và “thấm tận qua xương tuỷ” như một thứ hương (xúc giác, khứu giác). Ở khổ sau, khúc nhạc còn có màu “hường”. Năm giác quan hoà vào một cảm giác duy nhất là say mê.
- Thế giới không có thật. “Du Dương” được viết hoa như tên một xứ sở. Nhạc dẫn người nghe vào một miền chỉ có trong mơ, nơi hoa “hiển hiện” và hương “phảng phất”: thấy mà như không thấy, có mà như không có.
- Nhạc tính. Câu bảy chữ, vần bằng gieo ở cuối các dòng 1, 2, 4 của mỗi khổ (thơm – hôn – hồn, hường – Dương – hương), nhiều thanh bằng; đọc lên nghe như tiếng đàn ngân chứ không như lời kể.
- Đối tượng thật sự là cái tôi. Đoạn thơ không tả một bản nhạc cụ thể; nó diễn tả trạng thái tâm hồn đang tan vào cái đẹp. Đó chính là chỗ thơ tượng trưng khác thơ tả cảnh thông thường.
Câu 5 (trang 106): Khác biệt chính giữa truyện và truyện kí
Nêu một số điểm khác biệt chính giữa truyện và truyện kí.
Trả lời:
| Phương diện | Truyện | Truyện kí |
|---|---|---|
| Quan hệ với sự thật | Hư cấu là chính; nhân vật, sự việc có thể lấy cảm hứng từ đời thật nhưng do nhà văn tạo ra. | Dựa trên người thật, việc thật, địa danh và mốc thời gian có thể kiểm chứng; hư cấu chỉ ở mức chi tiết, lời thoại, cảm xúc. |
| Người kể | Người kể ngôi thứ ba hoặc một nhân vật xưng “tôi” do tác giả tạo ra. | Thường là tác giả hoặc một nhân vật mang bóng dáng tác giả, đứng ở vị trí người chứng kiến. |
| Mục đích | Khám phá con người, gửi gắm thông điệp qua câu chuyện tưởng tượng. | Lưu giữ, tái hiện một con người, một quãng đời, một giai đoạn lịch sử có thật; vừa cung cấp hiểu biết vừa bày tỏ suy ngẫm. |
| Ví dụ đã học | Chiều sương, Muối của rừng, Kiến và người | Ngôi nhà tranh của cụ Phan Bội Châu ở Bến Ngự, Tôi đã học tập như thế nào?, Xà bông “Con Vịt” |
Câu 6 (trang 106): Ngôi kể, điểm nhìn trong Tôi đã học tập như thế nào? hoặc Xà bông “Con Vịt”
Nhận xét về cách sử dụng ngôi kể, điểm nhìn trong tác phẩm Tôi đã học tập như thế nào? (M. Go-rơ-ki) hoặc Xà bông “Con Vịt” (Trần Bảo Định).
Trả lời: (chọn Tôi đã học tập như thế nào?)
- Ngôi kể thứ nhất. Người kể xưng “tôi” là chính Go-rơ-ki (tên thật A. M. Pê-xcốp) nhìn lại thời thơ ấu và thiếu niên vất vả của mình. Ngôi kể này tạo cảm giác chân thật: người đọc nghe chuyện từ người trong cuộc.
- Hai điểm nhìn đan nhau. Có lúc câu chuyện hiện ra qua con mắt cậu bé Pê-xcốp ngày ấy, với nỗi sợ, niềm vui ngơ ngác (như lúc được Đức Giám mục Cri-xan-phơ hỏi han). Có lúc người kể là nhà văn đã trưởng thành, đứng từ hiện tại để bình giá: sách đã thay đổi mình ra sao.
- Người kể trò chuyện với người đọc. Những đoạn gọi “các bạn” cho thấy người kể bước ra khỏi kí ức, nói thẳng với độc giả, khiến văn bản mang dáng dấp một lời tâm sự, một lời khuyên về việc đọc.
- Hiệu quả. Cách kể ấy làm cho quan niệm về sách không thành bài giảng khô khan. Ta tin vì đã thấy cậu bé phải trả giá thế nào để được đọc.
Câu 7 (trang 106): Người kể chuyện trong truyện ngắn và truyện kí; cảm nhận một truyện ngắn
Theo bạn, nhìn từ mối quan hệ với tác giả, người kể chuyện trong truyện ngắn khác với người kể chuyện trong truyện kí như thế nào? Chia sẻ cảm nhận hoặc ấn tượng sâu sắc nhất của bạn khi đọc một trong ba truyện ngắn: Chiều sương (Bùi Hiển), Muối của rừng (Nguyễn Huy Thiệp), Kiến và người (Trần Duy Phiên).
Trả lời:
Khác biệt. Ở truyện ngắn, người kể là một “vai” do tác giả dựng lên. Dù xưng “tôi” hay giấu mình ở ngôi thứ ba, người kể ấy không đồng nhất với tác giả: cậu bé xưng “cháu” trong Kiến và người không phải Trần Duy Phiên, lão Nhiệm Bình kể chuyện trong Chiều sương không phải Bùi Hiển. Trong truyện kí, người kể thường chính là tác giả, hoặc một nhân vật được đặt tên khác nhưng mang tiểu sử của tác giả (Tuấn trong Ngôi nhà tranh của cụ Phan Bội Châu ở Bến Ngự là bóng dáng Nguyễn Vỹ thời đi học). Vì vậy người đọc truyện kí đòi hỏi ở người kể sự trung thực với những gì đã xảy ra, còn với truyện ngắn ta chỉ đòi hỏi câu chuyện hợp lí trong thế giới của nó.
Cảm nhận về Muối của rừng. Ấn tượng nhất với tôi là khoảnh khắc ông Diểu quyết định tha cho con khỉ đực. Ông vào rừng với tâm thế người thợ săn, bắn trúng con khỉ bố và hăm hở đuổi theo. Nhưng chính cảnh khỉ cái liều mình quay lại đỡ chồng, khỉ con kêu thảm rồi rơi xuống vực, đã làm ông chùn tay. Không có lời giảng đạo đức nào; chỉ có một người đàn ông tự thấy xấu hổ trước một gia đình loài vật. Khi ông ra về, hoa tử huyền nở trắng rừng, thứ hoa mà dân gian coi là điềm lành. Nguyễn Huy Thiệp để thiên nhiên “đáp lễ” con người đúng lúc con người biết dừng lại. Đọc xong, tôi nghĩ nhiều về chữ “đủ”: cái giỏi của ông Diểu không phải là bắn trúng mà là biết bỏ súng xuống.
Kiểu bài viết (câu 8)
Câu 8 (trang 106): So sánh yêu cầu của hai cặp kiểu văn bản
Lập bảng so sánh và chỉ ra những điểm tương đồng, khác biệt về yêu cầu trong cách viết giữa hai kiểu văn bản: – Văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học và văn bản nghị luận về một tác phẩm văn học; – Báo cáo nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên hoặc xã hội và thuyết minh có lồng ghép một hay nhiều yếu tố như miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận.
Trả lời:
Cặp thứ nhất
| Nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học | Nghị luận về một tác phẩm văn học | |
|---|---|---|
| Giống nhau | Đều là văn nghị luận, cần luận đề rõ, hệ thống luận điểm, lí lẽ và bằng chứng lấy từ tác phẩm; bố cục ba phần; diễn đạt mạch lạc, có trích dẫn chính xác. | |
| Đối tượng bàn luận | Một vấn đề đời sống được gợi ra từ tác phẩm (lòng nhân ái, quan hệ người – thiên nhiên, giá trị của sách…). | Chính tác phẩm: chủ đề, nhân vật, hình ảnh, ngôn ngữ, thể loại. |
| Vai trò của tác phẩm | Là điểm xuất phát và một nguồn bằng chứng; bài viết phải mở ra đời sống, có thêm bằng chứng thực tế. | Là toàn bộ đối tượng; bằng chứng chủ yếu là chi tiết, câu chữ trong văn bản. |
| Kết bài | Rút ra bài học, thái độ, hành động cho người đọc hôm nay. | Khẳng định giá trị nội dung, nghệ thuật và vị trí của tác phẩm. |
Cặp thứ hai
| Báo cáo nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên hoặc xã hội | Thuyết minh có lồng ghép miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận | |
|---|---|---|
| Giống nhau | Đưa tin chuẩn xác, không thiên lệch; có thể dùng số liệu, sơ đồ, hình ảnh; ngôn ngữ rõ ràng, có trình tự. | |
| Mục đích | Trình bày kết quả của một quá trình tìm hiểu có câu hỏi, phương pháp, dữ liệu. | Giúp người đọc hiểu một đối tượng (sự vật, nơi chốn, nhân vật, hiện tượng). |
| Bố cục | Theo khung chuẩn: nêu vấn đề – cơ sở lí thuyết – phương pháp – kết quả, thảo luận – kết luận – tài liệu tham khảo. | Linh hoạt: theo thời gian, không gian, quan hệ nhân quả hoặc từng phương diện của đối tượng. |
| Yếu tố ngoài thông tin | Hạn chế cảm xúc; nhận định phải có dữ liệu chống đỡ; ghi nguồn đầy đủ. | Được xen miêu tả, kể chuyện, bày tỏ tình cảm, nêu ý kiến, miễn là phục vụ việc thuyết minh. |
Tiếng Việt (câu 9)
Câu 9 (trang 106): Bảng tổng hợp bốn mảng tri thức tiếng Việt
Lập bảng tổng hợp những điểm đáng lưu ý về các tri thức tiếng Việt liên quan đến: – Đặc điểm, tác dụng của một số hiện tượng phá vỡ những quy tắc ngôn ngữ thông thường; – Đặc điểm và tác dụng của biện pháp tu từ đối; – Đặc điểm và tác dụng của biện pháp tu từ lặp cấu trúc; – Cách nhận biết và cách sửa một số kiểu lỗi về thành phần câu.
Trả lời: (ví dụ trong bảng là câu tự đặt để minh hoạ)
| Nội dung | Đặc điểm / cách nhận biết | Tác dụng / cách sửa | Ví dụ |
|---|---|---|---|
| Phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường | Kết hợp từ trái lệ thường (danh từ dùng như tính từ, ghép từ chỉ cảm giác này với đối tượng của cảm giác khác), đảo trật tự từ, ngắt dòng bất thường, tạo từ mới. | Gây bất ngờ, tạo hình ảnh lạ, diễn tả những cảm xúc mà lối nói quen không chở được. Chỉ có giá trị khi người đọc vẫn hiểu được dụng ý. | “Tiếng chuông chiều mặn mùi biển” (âm thanh mang vị). |
| Biện pháp đối | Hai vế cân nhau về số tiếng, từ loại, cấu trúc ngữ pháp; ý nghĩa tương đồng hoặc tương phản. | Tạo nhịp cân xứng, dễ nhớ; làm nổi bật sự tương phản hoặc bổ sung ý; thường gặp trong thơ Đường luật, câu đối, văn biền ngẫu và trong Truyện Kiều. | “Ngày dài theo gió, đêm ngắn theo trăng.” |
| Lặp cấu trúc | Lặp lại một kiểu cấu trúc câu, cụm từ ở nhiều câu, dòng liên tiếp (có thể thay một vài từ). | Nhấn mạnh, tạo nhịp điệu dồn dập hoặc ngân vang, liên kết các câu với nhau. | “Có những chiều mưa không cần áo. Có những con đường không cần tên. Có những người bạn không cần hẹn.” |
| Lỗi về thành phần câu | Thiếu chủ ngữ (thường do mở đầu bằng “Qua…”, “Với…”, “Trong…”), thiếu vị ngữ (câu chỉ có cụm danh từ dài), thiếu cả hai thành phần chính, sắp xếp sai quan hệ giữa các thành phần. | Sửa bằng cách bỏ quan hệ từ ở đầu câu để cụm từ phía sau làm chủ ngữ, hoặc thêm chủ ngữ/vị ngữ còn thiếu, hoặc tách câu. | Sai: “Qua truyện Kiến và người cho thấy…” → Sửa: “Truyện Kiến và người cho thấy…” |
Viết đoạn văn (câu 10)
Câu 10 (trang 106): Viết đoạn văn 200–300 chữ về một trong hai nội dung
Viết đoạn văn (khoảng 200 – 300 chữ) về một trong hai nội dung sau: – Con người sẽ được gì, mất gì khi trở thành bạn với muôn loài? – Phải chăng “cái tôi” là một thế giới?
Trả lời: (đoạn tham khảo cho nội dung thứ hai, khoảng 260 chữ)
Mỗi người đều từng ngạc nhiên khi phát hiện ra rằng người bạn thân nhất của mình cũng có những góc mình chưa bao giờ biết. Điều đó cho thấy “cái tôi” đúng là một thế giới: rộng, có địa hình riêng, có những vùng sáng và những vùng chưa ai đặt chân tới. Thế giới ấy được làm nên từ kí ức, sở thích, nỗi sợ, ước mơ, cách mỗi người nhìn một buổi chiều mưa. Cùng nghe một bản nhạc, có người thấy vui, có người lại nhớ một người đã đi xa. Xuân Diệu trong Nguyệt cầm nghe tiếng đàn dưới trăng mà thấy cả một trời buồn; người khác có thể chỉ nghe thấy tiếng đàn. Chính sự khác biệt ấy làm cho văn chương, nghệ thuật có lí do tồn tại. Tuy vậy, một thế giới khép kín sẽ tự nghèo đi. Cái tôi chỉ giàu lên khi biết mở cửa: đọc sách để sống thêm đời người khác, lắng nghe để thấy góc nhìn mình chưa có, nhận ra nhu cầu của người bên cạnh. Biết mình là một thế giới cũng là biết tôn trọng thế giới của người khác, không bắt ai phải nghĩ, phải cảm như mình. Với người trẻ, việc cần làm không phải là tô đậm cái tôi bằng sự ồn ào, mà là chăm chút cho nó những điều đáng giữ: một sở thích nghiêm túc, một nguyên tắc sống, một tấm lòng biết rung động. Khi ấy cái tôi vừa riêng vừa không cô độc.
Gợi ý nếu chọn nội dung thứ nhất: được sự cân bằng, niềm vui gần gũi thiên nhiên, bài học về cách sống của muôn loài (như hoa tử huyền nở khi ông Diểu biết dừng tay); mất một phần lợi ích trước mắt (không săn bắn, không phá rừng lấy đất), phải thay đổi thói quen; khẳng định cái được lớn hơn cái mất, bởi như Kiến và người cho thấy, con người chống lại tự nhiên thì cuối cùng cũng mất chỗ sống của chính mình.
Hệ thống văn bản đã học ở học kì II Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo
Bảng xếp theo bài học. Tên có đường dẫn là bài soạn trên Văn VN; cột cuối ghi điều nên nhớ để dùng ngay khi làm câu hỏi so sánh.
| Bài | Văn bản – tác giả | Thể loại | Điều nên nhớ |
|---|---|---|---|
| Bài 6. Sống với biển rừng bao la | Chiều sương – Bùi Hiển | Truyện ngắn | Truyện lồng truyện: chàng trai đến làng chài nghe lão Nhiệm Bình kể chuyện đi biển trong sương; cuộc sống gian nan, gan góc của ngư dân. |
| Muối của rừng – Nguyễn Huy Thiệp | Truyện ngắn | Ông Diểu đi săn, tha con khỉ đực; hoa tử huyền nở; con người hướng thiện, hoà hợp với tự nhiên. | |
| Tảo phát Bạch Đế thành – Lý Bạch | Thơ tứ tuyệt (đọc kết nối chủ điểm) | Thuyền xuôi dòng nhẹ nhõm qua vượn kêu, núi trùng điệp; tâm trạng phơi phới. | |
| Kiến và người – Trần Duy Phiên | Truyện ngắn (đọc mở rộng theo thể loại) | Người kể xưng “cháu”; gia đình chống bầy kiến rồi phải bỏ nhà; cái giá của việc xâm phạm tự nhiên. | |
| Bài 7. Những điều trông thấy | Trao duyên – Nguyễn Du | Truyện thơ Nôm (trích) | Kiều trao duyên cho Thuý Vân; bi kịch tình yêu và độc thoại nội tâm. |
| Độc “Tiểu Thanh kí” – Nguyễn Du | Thơ chữ Hán, thất ngôn bát cú | Thương người con gái tài hoa bạc mệnh, tự hỏi về số phận người tài. | |
| Kính gửi cụ Nguyễn Du – Tố Hữu | Thơ lục bát (đọc kết nối) | Tri ân Nguyễn Du, thương Kiều, đối chiếu số phận con người xưa và nay. | |
| Thuý Kiều hầu rượu Hoạn Thư – Thúc Sinh – Nguyễn Du | Truyện thơ Nôm (đọc mở rộng theo thể loại) | Kiều bị hành hạ tinh thần; Hoạn Thư ghen sâu sắc; Thúc Sinh bất lực. | |
| Bài 8. Cái tôi – thế giới độc đáo | Nguyệt cầm – Xuân Diệu | Thơ có yếu tố tượng trưng | Trăng – đàn – nỗi buồn hoà vào nhau; tương giao cảm giác. |
| Thời gian – Văn Cao | Thơ tự do | Thời gian vô tình xoá nhiều thứ, nhưng câu thơ, bài hát, đôi mắt người yêu còn lại. | |
| Ét-va Mun-chơ và Tiếng thét – Su-si Hút-gi | Văn bản nghị luận về tác phẩm hội hoạ (đọc kết nối) | Yếu tố tượng trưng trong bức tranh nổi tiếng của danh hoạ Na Uy. | |
| Gai – Mai Văn Phấn | Thơ (đọc mở rộng theo thể loại) | Bài thơ hiện đại để luyện cách nhận ra hình ảnh, yếu tố tượng trưng. | |
| Bài 9. Những chân trời kí ức | Ngôi nhà tranh của cụ Phan Bội Châu ở Bến Ngự – Nguyễn Vỹ | Truyện kí (trích Tuấn – chàng trai nước Việt) | Tuấn và Quỳnh đến thăm cụ Phan năm 1927; ngôi nhà giản dị, phong thái ung dung của nhà chí sĩ. |
| Tôi đã học tập như thế nào? – M. Go-rơ-ki | Truyện kí, ngôi thứ nhất | Hành trình đến với sách của Pê-xcốp; sách giúp con người vươn lên. | |
| Nhớ con sông quê hương – Tế Hanh | Thơ (đọc kết nối) | Con sông tuổi thơ trong nỗi nhớ của người con xa quê. | |
| Xà bông “Con Vịt” – Trần Bảo Định | Truyện kí (đọc mở rộng theo thể loại) | Ông Cai Tuất cùng những người yêu nước dựng xưởng xà bông để người Việt dùng hàng Việt. |
Văn bản truyện thơ dân gian được nhắc ở câu 1, câu 2 (Lời tiễn dặn) thuộc Bài 3, học kì I; xem lại trang Ôn tập học kì I Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo nếu cần.
Lưu ý khi ôn 10 câu cuối học kì II Ngữ văn 11
- Ôn theo cặp so sánh. Năm trong mười câu yêu cầu so sánh: truyện thơ dân gian – truyện thơ Nôm, truyện – truyện kí, người kể trong truyện ngắn – trong truyện kí, hai cặp kiểu bài. Lập sẵn bảng hai cột cho từng cặp, mỗi ô một dẫn chứng là đủ dùng cho cả bài kiểm tra.
- Với thơ tượng trưng, tập gọi tên giác quan. Khi đọc một câu thơ lạ, thử hỏi: câu này đang “nghe”, “nhìn”, “ngửi” hay “nếm”? Nếu một câu dùng nhiều giác quan cho cùng một đối tượng, gần như chắc chắn đó là chỗ có yếu tố tượng trưng.
- Thuộc vài mốc về Nguyễn Du. Năm sinh – mất, quê, ba tập thơ chữ Hán, hai tác phẩm Nôm tiêu biểu, nguồn cốt truyện của Truyện Kiều. Câu hỏi tác giả thường chấm theo các ý này.
- Đề đọc hiểu có thể dùng đoạn truyện thơ Nôm ngoài sách (như Lục Vân Tiên ở đề dưới đây). Cách làm vẫn như với Trao duyên: xác định lời kể và lời nhân vật, chỉ ra thể lục bát, điển cố, tâm trạng.
- Soát lỗi thành phần câu trước khi nộp bài. Đọc lại mọi câu mở đầu bằng “Qua”, “Với”, “Trong”, “Bằng”: đây là chỗ hay mất chủ ngữ nhất.
Đề kiểm tra cuối học kì II Ngữ văn 11 Chân trời sáng tạo tham khảo (tự soạn, có đáp án)
Thời gian: 90 phút. Phần I. Đọc hiểu (4,0 điểm). Đọc đoạn trích sau:
(Lược đoạn trước: Trịnh Hâm ghen tài, nhân đêm khuya xô Lục Vân Tiên xuống sông. Vân Tiên được giao long dìu vào bãi, rồi được vợ chồng ông chài cứu sống.)
Ngư ông khi ấy hỏi han,
Vân Tiên thưa hết mọi đàng gần xa.
Ngư rằng: “Người ở cùng ta,
Hôm mai hẩm hút với già cho vui”.
Tiên rằng: “Ông lấy chi nuôi,
Thân tôi như thể trái mùi trên cây.
Nay đà trôi nổi đến đây,
Không chi báo đáp mình này trơ trơ”.
Ngư rằng: “Lòng lão chẳng mơ,
Dốc lòng nhơn nghĩa há chờ trả ơn?
Nước trong rửa ruột sạch trơn,
Một câu danh lợi chi sờn lòng đây.
Rày doi mai vịnh vui vầy,
Ngày kia hứng gió đêm này chơi trăng.
Một mình thong thả làm ăn,
Khỏe quơ chài kéo, mệt quăng câu dầm.
Nghêu ngao nay chích mai đầm,
Một bầu trời đất vui thầm ai hay.
Kinh luân đã sẵn trong tay,
Thung dung dưới thế vui say trong trời.
Thuyền nan một chiếc ở đời,
Tắm mưa chải gió trong vời Hàn Giang.”
(Nguyễn Đình Chiểu, Lục Vân Tiên, câu 955–976, theo bản Quốc ngữ 2082 câu; các bản khác có vài chỗ khác chữ)
Chú thích: trái mùi: quả chín muồi sắp rụng; doi: dải đất bồi nhô ra sông; vịnh: chỗ nước sâu ăn vào bờ; chích, đầm: chỗ nước nông, ao đầm; kinh luân: tài sắp đặt việc đời; thung dung: ung dung; Hàn Giang: tên một con sông.
Câu 1. (0,5 điểm) Đoạn trích được viết theo thể thơ nào? Văn bản Lục Vân Tiên thuộc thể loại gì?
Câu 2. (0,5 điểm) Lời ông Ngư mời Vân Tiên ở lại nói điều gì về hoàn cảnh sống của ông?
Câu 3. (0,75 điểm) Vì sao Vân Tiên ngần ngại khi nhận lời ở lại? Câu trả lời ấy cho thấy phẩm chất gì của chàng?
Câu 4. (1,0 điểm) Phân tích tác dụng của phép đối trong dòng thơ “Khỏe quơ chài kéo, mệt quăng câu dầm”.
Câu 5. (0,75 điểm) Từ lời ông Ngư, hãy so sánh lối sống của ông với những kẻ chạy theo “danh lợi” (như Trịnh Hâm trong truyện).
Câu 6. (0,5 điểm) Câu “Dốc lòng nhơn nghĩa há chờ trả ơn?” gợi cho em suy nghĩ gì về cách giúp người hôm nay? (trả lời 3–5 dòng)
Phần II. Viết (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm) Viết đoạn văn khoảng 200 chữ trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của lòng tốt không đòi đền đáp.
Câu 2. (4,0 điểm) Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá một vấn đề xã hội được đặt ra trong một truyện ngắn hoặc truyện kí đã học ở học kì II (ví dụ: cách con người đối xử với rừng núi, muông thú trong Muối của rừng; giá trị của việc đọc sách trong Tôi đã học tập như thế nào?).
Đáp án và hướng dẫn chấm
| Câu | Nội dung cần đạt | Điểm |
|---|---|---|
| I.1 | Thể lục bát; Lục Vân Tiên là truyện thơ Nôm. | 0,5 |
| I.2 | Ông nghèo, sống đạm bạc (“hẩm hút”: ăn uống kham khổ) nhưng sẵn lòng chia sẻ, muốn có người bầu bạn (“cho vui”). | 0,5 |
| I.3 | Vân Tiên ái ngại vì thấy mình chỉ là gánh nặng, không có gì đền đáp (“trái mùi trên cây”, “mình này trơ trơ”). Chàng là người trọng ân nghĩa, tự trọng, không muốn nhận ơn suông. | 0,75 |
| I.4 | Hai vế cân nhau: khỏe – mệt, quơ chài kéo – quăng câu dầm. Tác dụng: diễn tả nhịp lao động theo sức mình, tự do, không bị ép buộc; tạo nhịp câu thơ thong thả, cân đối; làm nổi bật niềm vui ung dung của người dân chài. | 1,0 |
| I.5 | Ông Ngư: sống giữa trời nước, “rửa ruột sạch trơn”, giúp người không mong báo đáp, coi nhẹ danh lợi. Kẻ chạy theo danh lợi như Trịnh Hâm: đố kị, sẵn sàng hại bạn. Tác giả đề cao lối sống trong sạch của người lao động, phê phán lòng tham và sự ích kỉ. | 0,75 |
| I.6 | Học sinh nêu được ý: giúp người xuất phát từ tình thương, không tính toán; không biến lòng tốt thành món nợ đòi lại; vẫn biết ơn khi được giúp. Diễn đạt rõ, có liên hệ. | 0,5 |
| II.1 | Đúng hình thức đoạn văn (0,25); giải thích lòng tốt không đòi đền đáp (0,25); bàn luận ý nghĩa với người cho, người nhận và cộng đồng, có dẫn chứng (1,0); phản đề: lòng tốt cần đi kèm sự tỉnh táo (0,25); bài học (0,25). | 2,0 |
| II.2 | Bố cục, luận đề rõ (0,5); giới thiệu tác phẩm và vấn đề xã hội (0,5); phân tích vấn đề qua nhân vật, chi tiết, cách kể (1,5); mở rộng ra đời sống hôm nay, có bằng chứng thực tế (0,75); khẳng định ý nghĩa, rút bài học (0,25); chính tả, diễn đạt, sáng tạo (0,5). | 4,0 |
Xem thêm: