Ôn tập cuối năm học là Bài 19, bài cuối của sách Tiếng Việt lớp 4 Cánh diều tập 2, trang 121–126, gồm 7 tiết. Bài giải dưới đây hướng dẫn từng tiết với đáp án đọc hiểu, bài tập trạng ngữ, chủ ngữ – vị ngữ, dấu câu và gợi ý bài văn.

Tuần ôn tập cuối năm học gồm những gì?
Sách in tên bài là “ÔN TẬP CUỐI NĂM HỌC”. Tiết 1 đến tiết 5 có phần A để thầy cô nghe từng bạn đọc thành tiếng hoặc đọc thuộc lòng, sau đó là bài tập:
- Tiết 1: bài thơ Đánh tam cúc (Trần Đăng Khoa).
- Tiết 2: trả bài văn thuật lại một sự việc được chứng kiến hoặc tham gia.
- Tiết 3: nghe kể Hơn cả phép mầu và trao đổi.
- Tiết 4: nghe – viết Đội của em, dấu ngoặc đơn.
- Tiết 5: trạng ngữ chỉ nguyên nhân, mục đích, phương tiện. Tiết 6: đọc hiểu Chú bé bán báo. Tiết 7: viết bài văn.
Tiết 1: Đánh tam cúc (trang 121–122)
A. Mỗi học sinh đọc một đoạn văn, đoạn thơ khoảng 85 – 90 tiếng hoặc đọc thuộc lòng một đoạn thơ (bài thơ) đã học. Em ôn các bài đọc của học kì 2, nhất là từ Bài 16 đến Bài 18 (bài có liên kết đã có lời giải):
| Bài | Bài đọc đã học |
| Bài 16. Tuổi nhỏ chí lớn | Chiến công của những du kích nhỏ, Em bé Bảo Ninh, Phong trào kế hoạch nhỏ, Mùa xuân em đi trồng cây |
| Bài 17. Khám phá thế giới | Chẳng phải chuyện đùa, Đường đi Sa Pa, Ngọn đuốc trong đêm, Bức mật thư |
| Bài 18. Vì cuộc sống con người | Chuyện cổ tích về loài người, Sáng tạo vì cuộc sống, Nhà bác học Niu-tơn, Vòng quanh trái đất, Nụ cười Ga-ga-rin, Một trí tuệ Việt Nam |
B. Đọc và làm bài tập: bài thơ Đánh tam cúc (trích) của Trần Đăng Khoa kể chuyện bé Giang ở nhà một mình, chơi bài tam cúc với chú mèo khoang. Từ ngữ: tam cúc (loại bài có 32 quân: tướng, sĩ, tượng…), hài (giày thời xưa), hiu hiu (tóc bay nhè nhẹ vì gió), chui (thua, bị loại).
Câu 1 (trang 122): Những chi tiết nào cho thấy trò chơi đánh tam cúc giữa bé Giang và con mèo khoang diễn ra giống như thật và rất vui?
Trả lời:
- Hai bên chia quân, có thắng có thua: bé Giang nói quân nào mèo được, quân nào bé chui, rồi lại đổi ngược.
- Mèo cũng có phản ứng như người chơi: rung râu, chớp mắt, kêu ngoao ngoao, phổng mũi khi thắng, dỏng tai khi thua.
- Bé Giang nhường mèo thắng, dỗ dành bạn; mèo thè lưỡi liếm răng như đang khoái chí.
Câu 2 (trang 122): Tìm những hình ảnh cho thấy bé Giang rất giàu trí tưởng tượng.
Trả lời: Bé nhìn các quân bài như người, vật thật: tướng ông đi hài đỏ, tướng bà có mái tóc bay trong gió, con ngựa chân còn dính bụi đường, quân sĩ học giỏi, thuộc lòng thơ văn. Bé còn coi mèo khoang là một bạn chơi, nói chuyện và nhường nhịn mèo như với một người bạn.
Câu 3 (trang 122): Biện pháp nhân hoá có tác dụng gì trong việc thể hiện những nội dung trên?
Trả lời: Nhân hoá làm cho chú mèo hiện lên như một người bạn biết vui, biết buồn; các quân bài sống động như những nhân vật thật. Nhờ vậy, trò chơi thêm vui nhộn, gần gũi, và người đọc thấy được tâm hồn ngây thơ, giàu tưởng tượng của bé Giang.
Câu 4 (trang 122): Hình ảnh ánh nắng và làn khói bếp tô điểm thêm cho bức tranh chơi tam cúc như thế nào?
Trả lời: Ánh nắng hồng như cũng tò mò bay vào xem rồi dừng lại trước cửa, làm cho cảnh chơi thêm sáng sủa, tươi vui. Làn khói bếp thơm từ nhà ai bay sang báo hiệu đã đến giờ nấu cơm, khiến bức tranh thêm ấm cúng, bình yên và cho thấy bé chơi say mê đến quên cả thời gian.
Tiết 2: Trả bài văn thuật lại một sự việc (trang 122)
A. Thầy cô kiểm tra đọc như tiết 1. B. Trả bài viết gồm 4 việc: nghe nhận xét chung, sửa lỗi chung cùng cả lớp, đọc kĩ lời nhận xét để tự sửa bài, đổi bài cho bạn kiểm tra.
Hướng dẫn tự sửa bài
- Về cấu tạo: bài phải đủ mở bài – thân bài – kết bài; các đoạn, các ý xếp theo trình tự diễn ra của sự việc (trước – trong – sau).
- Về nội dung: mở bài cần nói rõ thuật lại việc gì (tiết học nào, buổi tham quan, thi đấu thể thao hay buổi biểu diễn nào); thân bài kể đủ diễn biến chính và chi tiết đáng nhớ; kể đúng như thực tế; kết bài nêu cảm nghĩ của em.
- Soát lại lỗi dùng từ, đặt câu, chính tả; viết lại đoạn đã sửa vào vở.
Tiết 3: Nghe kể Hơn cả phép mầu (trang 123)
A. Thầy cô kiểm tra đọc như tiết 1. B. Luyện tập nghe và nói.
Câu 1 (trang 123): Nghe và kể lại câu chuyện sau: Hơn cả phép mầu
Truyện do Hà An kể, không in trong SGK. Tranh vẽ ông lão ăn xin nhận lại vật gì đó từ tay một cô gái. Gợi ý: a) Ông Ha-ri-xơ phát hiện ra điều gì trong chiếc lon đựng xu lẻ của mình? b) Vì sao ông không bán vật quý đó mà ngồi chờ người mất của quay lại nhận? c) Vợ chồng cô Đa-linh đã đền đáp người ăn xin thật thà, nhân hậu bằng cách nào? d) Tại trường quay của hãng truyền hình, ông Ha-ri-xơ đã gặp ai và ông nói gì?
Trả lời: Bài kể tham khảo:
Ở một thành phố của nước Mỹ, có ông Ha-ri-xơ không nhà cửa, sống nhờ những đồng xu người qua đường thả vào chiếc lon. Một hôm, ông thấy trong lon có một chiếc nhẫn kim cương, chắc là của một phụ nữ vô tình đánh rơi. Ông mang nhẫn đến tiệm vàng, nghe nói nó đáng giá mấy nghìn đô la. Nhưng ông chợt nghĩ người đánh mất chắc đang buồn lắm, vì đó là kỉ vật quý. Thế là ông giữ nhẫn lại, ngày ngày ngồi chờ. Quả nhiên, chủ chiếc nhẫn là cô Đa-linh quay lại tìm, và ông trao trả ngay. Cảm động trước tấm lòng của ông, vợ chồng cô lập một quỹ trên mạng kêu gọi mọi người góp tiền giúp ông có chỗ ở; số tiền nhận được lên tới hàng trăm nghìn đô la. Câu chuyện lan đi khắp nơi, nhờ đó người em gái thất lạc mười mấy năm đã tìm thấy ông. Gặp lại em tại trường quay một đài truyền hình, ông xúc động nói rằng đó là phần thưởng quý giá nhất mà ông có được.
Câu 2 (trang 123): Trao đổi:
a) Vì sao câu chuyện được đặt tên là Hơn cả phép mầu? b) Chọn một tên khác cho câu chuyện trên: – Ở hiền gặp lành. – Đói cho sạch, rách cho thơm. – Thương người như thể thương thân.
Trả lời:
- a) Vì từ một việc làm tốt, ông Ha-ri-xơ nhận lại những điều tưởng như không thể: có tiền, có chỗ ở và nhất là tìm lại được người thân sau bao năm xa cách. Điều đó còn kì diệu hơn cả phép mầu trong truyện cổ tích.
- b) Em có thể chọn Ở hiền gặp lành (người tốt được đền đáp) hoặc Đói cho sạch, rách cho thơm (nghèo khó vẫn giữ lòng trung thực). Cả ba tên đều hợp, miễn em giải thích được lí do.
Tiết 4: Nghe – viết Đội của em (trang 123–124)
A. Thầy cô kiểm tra đọc như tiết 1. B. Nghe – viết: đoạn văn Đội của em (theo Hội đồng Đội Trung ương) kể lại các mốc ra đời và đổi tên của Đội. Khi viết, chú ý viết đúng ngày tháng năm (15-5-1941, 30-1-1970), viết hoa tên địa danh Nà Mạ, Trường Hà, Hà Quảng, Cao Bằng và tên Đội ở các thời kì.
C. Trả lời câu hỏi: Các dấu ngoặc đơn trong đoạn văn trên được dùng làm gì?
Các dấu ngoặc đơn (1950), (1951), (1956) dùng để đánh dấu phần chú thích, cho biết năm Đội mang từng tên gọi.
Tiết 5: Luyện từ và câu – trạng ngữ (trang 124–125)
A. Thầy cô kiểm tra đọc như tiết 1. B. Luyện từ và câu.
Câu 1 (trang 124): Tìm từ thích hợp trong ngoặc đơn để hoàn thành các câu sau:
a) (Vì, nhờ, tại) rét, rặng xoan năm nay chậm nảy lộc. b) (Vì, nhờ, tại) nắng ấm, vườn đào nở hoa tưng bừng. c) (Vì, nhờ, tại) không có răng, loài chim không nhai mà chỉ nuốt thức ăn.
Trả lời:
- a) Tại rét, rặng xoan năm nay chậm nảy lộc. (kết quả không mong muốn nên dùng tại; dùng vì cũng được)
- b) Nhờ nắng ấm, vườn đào nở hoa tưng bừng. (kết quả tốt nên dùng nhờ)
- c) Vì không có răng, loài chim không nhai mà chỉ nuốt thức ăn. (chỉ nêu nguyên nhân, không tốt không xấu)
Câu 2 (trang 124): Bổ sung trạng ngữ phù hợp vào chỗ trống ở một trong hai đoạn văn dưới đây:
a) Vì sao chuột thường gặm các vật cứng? (Theo Phạm Văn Bình) – Trạng ngữ: Để khỏi vướng víu, Để mài cho răng mòn đi.
b) Vì sao lợn thường lấy mõm dũi đất lên? (Theo Phạm Văn Bình) – Trạng ngữ: Để tìm kiếm thức ăn, Để mài cho xương mòn đi.
Trả lời:
- a) Chỗ trống đứng trước vế “chuột phải gặm các vật cứng”, ngay sau câu nói răng chuột mọc dài mãi thì rất vướng víu. Điền: Để khỏi vướng víu, chuột phải gặm các vật cứng. (Trạng ngữ Để mài cho răng mòn đi cũng nói đúng mục đích, nhưng ý khỏi vướng víu nối liền mạch với câu trước.)
- b) Điền Để tìm kiếm thức ăn vào chỗ trống, đứng trước vế nói lợn dùng mũi và mõm để dũi đất. Câu cuối đoạn nói thói quen dũi đất bắt nguồn từ cách lợn rừng tìm thức ăn, nên chọn trạng ngữ này; trạng ngữ còn lại không đúng sự thật.
Câu 3 (trang 124–125): Tìm từ ngữ thích hợp với ô trống để hoàn thành các câu sau:
a) Bằng …, bạn Tuấn đã đạt được những kết quả học tập xuất sắc. b) Với …, bạn Đức luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ chi đội trưởng. c) … một giọng ca mượt mà và tình cảm, bạn Lan đã chinh phục được tất cả khán giả. d) … óc quan sát tinh tế và đôi bàn tay khéo léo, người nghệ sĩ dân gian đã sáng tạo nên những bức tranh làng Hồ nổi tiếng.
Trả lời: Ví dụ:
- a) Bằng sự chăm chỉ và lòng kiên trì, bạn Tuấn đã đạt được những kết quả học tập xuất sắc.
- b) Với tinh thần trách nhiệm cao, bạn Đức luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ chi đội trưởng.
- c) Bằng (hoặc Với) một giọng ca mượt mà và tình cảm, bạn Lan đã chinh phục được tất cả khán giả.
- d) Với (hoặc Bằng) óc quan sát tinh tế và đôi bàn tay khéo léo, người nghệ sĩ dân gian đã sáng tạo nên những bức tranh làng Hồ nổi tiếng.
Các trạng ngữ mở đầu bằng bằng, với cho biết phương tiện, cách thức để làm việc gì đó.
Tiết 6: Luyện tập đọc hiểu – Chú bé bán báo (trang 125–126)
Truyện của Phạm Thắng kể một hoạt động giao liên (chuyển tin tức, mệnh lệnh) của Đội Thiếu niên tình báo Bát Sắt ở Hà Nội thời kháng chiến chống thực dân Pháp: chú bé giả làm người bán báo để trao tin cho một chiến sĩ. Từ ngữ: rạp chiếu bóng (rạp chiếu phim), thộp (túm lấy nhanh, gọn và đột ngột).
Câu 1 (trang 126): Chú bé bán báo trong bài đọc làm nhiệm vụ gì?
Trả lời: Chú bé làm nhiệm vụ giao liên: giả vờ bán báo trước cửa rạp để gặp người khách đội mũ dạ, nhận và chuyển tin tức bí mật cho cách mạng.
Câu 2 (trang 126): Theo em, điếu thuốc lá mà ông khách đánh rơi và tờ báo bán cho khách chứa bí mật gì?
Trả lời: Theo em, trong điếu thuốc lá có giấu mật thư (tin tức, mệnh lệnh) ông khách cần chuyển cho Đội; còn tờ báo chú bé đưa lại cũng có thể kẹp tin tức của Đội gửi cho ông khách. Hai bên trao đổi tin mà người ngoài không nhận ra.
Câu 3 (trang 126): Theo em, người đàn ông xuất hiện ở cuối câu chuyện là ai? Tìm ý đúng:
a) Một đồng đội của người đàn ông mua báo. b) Một người dân qua đường. c) Một đồng đội của hai chú bé. d) Kẻ địch.
Trả lời: Chọn d) Kẻ địch. Gã đeo kính râm che gần kín mặt, lững thững bước tới đúng lúc người đồng đội vừa giật điếu thuốc chạy đi và chú bé vờ khóc – đó là cách các chiến sĩ nhỏ đánh lạc hướng tên mật thám.
Câu 4 (trang 126): Xác định chủ ngữ, vị ngữ của mỗi câu trong đoạn văn sau:
Ngỡ ngàng một giây, chú đã nhận ra đồng đội. Đứa vừa quát thộp túi ngực chú bé, moi lấy điếu thuốc rồi ù té chạy. Chú bé vờ quệt nước mắt, xoay người lại phía sau. Một gã đàn ông loẻo khoẻo, đeo kính râm to gần kín mặt đang lững thững bước tới…
Trả lời:
| Câu | Chủ ngữ | Vị ngữ |
| 1 (trạng ngữ: Ngỡ ngàng một giây) | chú | đã nhận ra đồng đội |
| 2 | Đứa vừa quát | thộp túi ngực chú bé, moi lấy điếu thuốc rồi ù té chạy |
| 3 | Chú bé | vờ quệt nước mắt, xoay người lại phía sau |
| 4 | Một gã đàn ông loẻo khoẻo, đeo kính râm to gần kín mặt | đang lững thững bước tới |
Câu 5 (trang 126): Dấu ngoặc kép trong bài đọc được dùng làm gì?
Trả lời: Dấu ngoặc kép dùng để đánh dấu tên tờ báo (Ngày Mới) và đánh dấu từ ngữ được nhắc lại, nhấn mạnh (cụm từ quý ngài – ám hiệu liên lạc); ngoài ra còn đánh dấu lời nói của nhân vật, ví dụ tiếng rao tên báo.
Tiết 7: Bài luyện tập viết (trang 126)
Chọn 1 trong 2 đề. Sách có ảnh vườn hoa tu-líp và rặng dừa bên sông.
Câu 1 (trang 126): Tả một vườn cây (hoặc rặng cây).
Trả lời: Bài văn tham khảo: Quê ngoại em ở Bến Tre, ven con sông nhỏ có một rặng dừa xanh tốt. Từ xa nhìn lại, rặng dừa như một bức tường xanh chạy dài theo bờ nước. Những thân dừa cao vút, bạc phếch, cây thẳng tắp, cây nghiêng mình soi bóng xuống sông. Trên ngọn, tàu lá xoè rộng như những cánh tay vẫy gió, đung đưa xào xạc. Giữa các tàu lá là từng buồng dừa sai trĩu, quả nào cũng tròn căng. Buổi trưa, bóng dừa che mát cả khúc sông, thuyền bè qua lại thường ghé vào nghỉ. Chiều xuống, nắng vàng nhuộm rặng dừa thành một màu óng ả. Mỗi lần về quê, em lại được uống nước dừa mát lịm do ông ngoại trèo hái. Em yêu rặng dừa như yêu quê ngoại thân thương.
Câu 2 (trang 126): Thuật lại một lần em cùng bố mẹ (hoặc người lớn trong gia đình) đi chơi (hoặc đi thăm ông bà, cô bác,…).
Trả lời: Dàn ý: mở bài – giới thiệu chuyến đi (đi đâu, với ai, khi nào); thân bài – thuật lại theo thứ tự: chuẩn bị, trên đường đi, những việc làm ở nơi đến, việc em nhớ nhất; kết bài – cảm nghĩ. Đoạn mở bài tham khảo: Mùa hè vừa rồi, bố mẹ đưa em về Nam Định thăm ông bà nội. Từ tối hôm trước, em đã tự xếp quần áo vào ba lô và chuẩn bị một tấm thiệp tặng bà…