Ở rể là việc người đàn ông sau khi cưới về sống ở nhà vợ, cùng hoặc gần cha mẹ vợ, thay vì đưa vợ về nhà mình. Cách nói khác là gửi rể, ở gửi rể. Với người Kinh, ở rể thường là một lựa chọn riêng của từng nhà; còn ở một số dân tộc, tục ở rể là luật lệ lâu đời, có nơi ở vài tháng, có nơi ở trọn đời.
| Nghĩa | Chồng về sống ở nhà vợ sau khi cưới |
| Tên gọi khác | Gửi rể, ở gửi rể; chữ Hán: nhập chuế 入贅, người ở rể là chuế tế 贅婿 |
| Hai dạng | Ở rể trọn đời (dân tộc theo mẫu hệ) và ở rể có thời hạn |
| Vùng có tục này | Tây Nguyên, Nam Trung Bộ, nhiều vùng miền núi phía Bắc |

Ở rể nghĩa là gì?
Chữ rể theo từ điển là người đàn ông đã lấy vợ, xét trong quan hệ với cha mẹ vợ và gia đình nhà vợ. Từ đó có chú rể, con rể, cháu rể. Thêm chữ ở phía trước, cụm từ chỉ đúng chỗ ở: chàng rể không chỉ làm rể nhà ấy, mà sống luôn trong nhà ấy.
Từ điển ghi ở rể là khẩu ngữ của ở gửi rể, còn gửi rể là đến sống với gia đình bên vợ sau khi cưới. Chữ “gửi” gợi một nét tâm lý xưa: người đàn ông được “gửi” sang nhà khác, như khách ở nhờ.
Sách Hán ngày trước gọi người ở rể là chuế tế (贅婿), việc vào ở rể là nhập chuế (入贅). Chữ chuế 贅 trong từ điển của Thiều Chửu vừa có nghĩa ở rể, vừa có nghĩa thừa, như trong chuế vưu (cái bướu thừa) hay chuế ngôn (lời rườm).
Vì sao có tục ở rể?
Câu trả lời khác nhau tùy cách mỗi cộng đồng tính dòng họ.
Với những cộng đồng theo chế độ mẫu hệ, nhà cửa, đất đai và dòng họ đi theo người mẹ. Con gái là người ở lại giữ nhà, nên con trai lấy vợ thì sang nhà vợ, thường là trọn đời. Các dân tộc được nhắc nhiều là Ê Đê, Gia Rai, Chăm, Chu Ru, Ra Glai. Cách tính dòng họ ấy được giải thích kỹ ở bài dòng họ tính theo mẹ ở Tây Nguyên.
Ở nhiều dân tộc theo phụ hệ, ở rể lại chỉ là một chặng có thời hạn. Chàng trai sang làm lụng cho nhà vợ một thời gian, đến lúc sinh con đầu lòng hay hết hạn hai nhà đã thỏa thuận thì đưa vợ con về nhà mình. Chặng này vừa để đền ơn cha mẹ vợ đã nuôi con gái, vừa để nhà gái xem người con rể có chăm chỉ, tử tế không.
Với người Kinh, lệ thường là “con gái về nhà chồng”. Ở rể thường là trường hợp riêng: nhà vợ neo người, không có con trai, hoặc hoàn cảnh hai bên khiến sống bên vợ tiện hơn; thời nay thì thêm những lý do rất đời như nhà vợ gần chỗ làm, có người trông cháu.
Ở rể diễn ra thế nào ở mỗi nơi?
Người Gia Rai: ngủ nhà rông trước khi về nhà vợ
Ở người Gia Rai, nhà gái đi “bắt chồng”, nhờ già làng hay một người được cả làng nể đứng ra mai mối. Sau lễ, chàng trai chưa về nhà vợ ngay mà ngủ ở nhà rông của làng chừng một đến ba tháng. Ban ngày anh theo vợ lên rẫy, ăn cơm nhà vợ; tối lại về nhà rông. Đó là thời gian thử thách: không say rượu, không nói xấu nhà vợ, không để ý cô gái khác. Khi nhà gái đã tin, anh mới chính thức vào ở nhà vợ.
Người Ê Đê: nhà gái rước rể
Người Ê Đê cũng theo mẫu hệ. Con gái đi hỏi chồng, nhà gái lo lễ và tổ chức rước chàng rể về nhà mình. Con cái sinh ra mang họ mẹ. Ngôi nhà dài truyền thống được nối thêm mỗi khi trong nhà có người con gái lấy chồng, nên một nóc nhà có thể có nhiều thế hệ cùng sống.
Người Thái xứ Thanh: cưới hai lần
Ở người Thái miền tây Thanh Hóa, sau lễ cưới lần thứ nhất, chú rể chưa đón vợ về mà sang ở rể. Đôi vợ chồng cùng làm nương, tích góp của cải; người vợ dệt khăn, chăn để biếu cha mẹ chồng. Khoảng cách giữa hai lần cưới có khi vài tháng, có khi nhiều năm. Chỉ khi gia đình nhỏ đã đủ đầy, nhà trai mới mang lễ sang đón dâu trong lễ cưới lần hai.
Người Kinh thời nay
Không có nghi lễ riêng cho việc ở rể. Đám cưới vẫn có rước dâu về nhà trai, sau đó hai vợ chồng bàn với hai bên rồi dọn về ở bên vợ. Chuyện ở rể giờ chủ yếu là chuyện sắp xếp gia đình, chỗ ở và công việc.
Ở rể, làm rể, gửi rể và một tiếng lóng
| Cách nói | Nghĩa | Sắc thái |
|---|---|---|
| Ở rể | Chồng sống ở nhà vợ | Trung tính |
| Gửi rể, ở gửi rể | Như ở rể, cách nói cũ hơn | Trung tính, hơi cổ |
| Làm rể | Trở thành con rể của một nhà; không bắt buộc phải sống ở đó | Trung tính |
| Nhập chuế, chuế tế | Chữ Hán chỉ việc ở rể và người ở rể | Sách vở, văn cổ |
| Chạn vương | Tiếng lóng trêu người đàn ông ở rể hoặc sống dựa vào vợ | Trêu chọc, dễ gây tự ái |
Chỗ hay nhầm là “làm rể” và “ở rể”. Câu anh ấy làm rể nhà ông giáo chỉ có nghĩa anh lấy con gái ông giáo; còn anh ấy ở rể nhà ông giáo thì mới là anh dọn về sống ở đó. Tiếng lóng thì nặng tay hơn: người ở rể đôi khi bị bạn bè gọi đùa là chạn vương, câu chuyện của chữ này nằm ở bài tiếng lóng chạn vương và cái chạn bát. Còn cách xưng hô giữa các chàng rể trong một nhà có ở bài em rể là chồng của ai.
Ở nhiều bản làng Tây Nguyên, câu hỏi “anh về nhà ai?” sau đám cưới chẳng có gì phải băn khoăn: người con trai về nhà vợ, và ngôi nhà dài dài thêm một gian.
Ở rể thời nay: chuyện nơi ở và chuyện tiếng cười
Gửi rể và ở rể có khác nhau không?
Không khác về nghĩa. Từ điển coi ở rể là cách nói khẩu ngữ của ở gửi rể; “gửi rể” nghe cũ hơn, hay gặp trong sách và lời người lớn tuổi.
Ở rể có phải đổi sang họ nhà vợ không?
Với người Kinh, ở rể chỉ là chuyện nơi ở, không kéo theo việc đổi họ. Ở các dân tộc theo mẫu hệ như Ê Đê, Gia Rai, con cái mang họ mẹ theo phong tục, nhưng đó là luật của cả cộng đồng chứ không riêng nhà nào có rể ở cùng.
Dân tộc nào ở Việt Nam có tục ở rể?
Ở rể trọn đời gặp ở các dân tộc mẫu hệ như Ê Đê, Gia Rai, Chăm, Chu Ru, Ra Glai. Ở rể có thời hạn gặp ở nhiều dân tộc miền núi phía Bắc, trong đó có người Thái. Mỗi nơi, mỗi nhóm lại có lệ riêng về thời gian và nghi thức.
Ở rể tiếng Anh là gì?
Có thể nói live with one’s wife’s family hoặc move in with the in-laws. Trong sách nhân học, tục ở rể được gọi là matrilocal residence hay uxorilocal residence.