Mắt bồ câu là cách người Việt gọi đôi mắt to, tròn, hai mí rõ, lòng đen sáng và trong, gợi đến đôi mắt tròn xoe của con chim bồ câu. Khen ai có “đôi mắt bồ câu” là khen cả dáng mắt lẫn ánh nhìn hiền, dịu. Đây là lối ví von trong lời ăn tiếng nói, không phải tên gọi y khoa.
| Nghĩa ngắn | Đôi mắt to, tròn, hai mí rõ, ánh nhìn trong và hiền |
| Loại từ | Cụm danh từ, lối so sánh ngầm lấy hình ảnh con vật |
| Sắc thái | Khen; hay dùng khi tả em bé, thiếu nữ, cũng có thể dùng cho nam |
| Gần nghĩa | Mắt to tròn, mắt nai, mắt long lanh |

Mắt bồ câu là đôi mắt thế nào?
Không có cái thước nào đo được mắt bồ câu. Vậy mắt bồ câu là mắt như thế nào? Khi người ta nói một đôi mắt “bồ câu”, thường có mấy nét đi cùng nhau:
- Mắt to so với khuôn mặt, chiều cao của mắt khá lớn nên trông tròn chứ không dài, hẹp.
- Đầu mắt và đuôi mắt gần như nằm trên một đường ngang, không xếch lên, cũng không trĩu xuống.
- Có nếp mí rõ, hai bên cân nhau.
- Lòng đen lớn, đen láy, lòng trắng trong, nên ánh nhìn có vẻ ngây thơ và hiền.
Vì là lối ví von, mỗi người hình dung một chút khác. Có bài báo làm đẹp tả mắt bồ câu là to và ngang; có chỗ lại khen một người có “mắt bồ câu nhỏ” vì mắt tròn, lòng đen sáng. Cái lõi chung vẫn là tròn và trong. Vài câu dùng thường gặp:
- Con bé có đôi mắt bồ câu đen láy, nhìn ai cũng như đang tò mò.
- Cậu ấy cao, da ngăm, cặp mắt bồ câu làm gương mặt bớt đi vẻ cứng.
- Bà nội bảo cháu được mắt bồ câu giống mẹ, mũi thì giống bố.
Con chim hiền và đôi mắt tròn xoe
Ai từng cho bồ câu ăn ở sân đình hay quảng trường đều thấy đôi mắt chúng tròn như hạt cườm, có một viền mí bao quanh rất gọn. Con chim này lại gắn với vẻ hiền lành, gần người. Mượn mắt bồ câu để tả mắt người, lời khen vì thế mang luôn cái hiền của con chim chứ không chỉ cái tròn.
Cách khen ấy cũng cho thấy chuẩn đẹp thay đổi theo thời. Lối tả người đẹp ngày xưa hay dùng cụm mắt phượng mày ngài: mắt dài, đuôi hơi xếch như mắt chim phượng. Báo chí làm đẹp mấy năm gần đây nhận xét người trẻ chuộng mắt to tròn, hai mí rõ hơn, và chữ “bồ câu” xuất hiện dày trong các bài bàn chuyện làm đẹp. Còn các bài xem tướng hay gán cho người mắt bồ câu một tính cách này khác; đó là quan niệm dân gian, không có cơ sở khoa học. Chuyện can thiệp thẩm mỹ để có mắt bồ câu lại là việc của bác sĩ chuyên khoa, không phải của từ điển.
Mắt bồ câu bên cạnh mắt phượng, mắt nai, mắt lá răm
Tiếng Việt có cả một kho từ tả dáng mắt, phần lớn mượn hình ảnh cây cỏ, con vật. Đặt chúng cạnh nhau sẽ thấy mắt bồ câu nằm ở đâu:
| Cách gọi | Hình dung | Sắc thái |
|---|---|---|
| Mắt bồ câu | To, tròn, hai mí rõ, lòng đen sáng | Khen, nghiêng về hiền, trong trẻo |
| Mắt nai | To, tròn, long lanh, có vẻ ngơ ngác | Khen, nghiêng về ngây thơ |
| Mắt phượng | Dài, đuôi hơi xếch lên | Khen kiểu cổ điển, sắc sảo |
| Mắt lá răm | Dài, hẹp, đuôi nhọn như lá rau răm | Khen, gợi nét duyên |
| Mắt ti hí | Nhỏ, hẹp, như chỉ hé ra | Thường là chê nhẹ hoặc trêu |
| Mắt ốc nhồi | To và lồi | Trêu, chê |
Gần nhất với mắt bồ câu là mắt nai; hai cụm nhiều khi dùng thay nhau, chỉ khác chút sắc thái. Đối cực là những dáng mắt nhỏ và dài, như dáng mắt lươn nhỏ và dài. Nếu điều muốn tả là màu mắt chứ không phải dáng mắt, tiếng Việt có chữ khác, đọc thêm ở nghĩa chữ biếc trong mắt biếc.
Một lưu ý nhỏ khi viết văn tả người: “đôi mắt bồ câu” đã chứa sẵn ý to và tròn, nên viết “đôi mắt bồ câu to tròn” là lặp ý. Thêm một chữ về màu hoặc ánh nhìn, như “đôi mắt bồ câu đen láy”, câu văn sẽ gọn và có hình hơn.
Mắt bồ câu trong lời khen hằng ngày
Đôi mắt bồ câu có phải mắt hai mí không?
Phần lớn người nói “mắt bồ câu” đều hình dung một đôi mắt có nếp mí rõ. Tuy vậy đây là cách khen theo cảm nhận, không phải phân loại chặt; một đôi mắt to, tròn, sáng vẫn có thể được gọi là mắt bồ câu dù nếp mí không thật rõ.
Mắt bồ câu khác mắt nai ở điểm nào?
Cả hai đều chỉ mắt to và tròn. “Mắt nai” thiên về vẻ long lanh, hơi ngơ ngác; “mắt bồ câu” thiên về vẻ hiền và trong. Trong lời nói hằng ngày, hai cụm này nhiều lúc dùng lẫn mà người nghe vẫn hiểu.
Con trai có mắt bồ câu được không?
Được. Cụm từ hay đi với con gái và trẻ nhỏ, nhưng tả một chàng trai có “cặp mắt bồ câu” cũng tự nhiên, thường để nói gương mặt anh ấy hiền, dễ gần.
Mắt bồ câu tiếng Anh nói thế nào?
Tiếng Anh không có cụm tương ứng nguyên văn. Người ta thường tả bằng big round eyes; cụm doe eyes (mắt nai cái) cũng gần ý, nhấn vào vẻ to và ngây thơ.