Lưu luyến là không muốn rời xa, không nỡ dứt ra ngay vì còn mến, còn tiếc một người hay một nơi đã gắn bó. Học sinh gặp từ này nhiều nhất trong những câu như “buổi chia tay đầy lưu luyến” hay “lưu luyến mái trường”. Danh từ hóa thành sự lưu luyến, nỗi lưu luyến thì chỉ chính cái cảm giác vương lại ấy.
| Nghĩa ngắn | Còn mến, còn tiếc nên chưa muốn rời xa |
| Gốc từ | Hán Việt 留戀: lưu (ở lại, giữ lại) + luyến (mến, vương vít) |
| Loại từ | Động từ; đứng sau danh từ thì dùng như tính từ (ánh mắt lưu luyến) |
| Đồng nghĩa gần nhất | Quyến luyến, bịn rịn |

Lưu luyến: muốn đi mà lòng còn ở lại
Theo từ điển của Viện Ngôn ngữ học, lưu luyến là một động từ: lòng chưa muốn rời đi, chưa dứt ra được, bởi vẫn còn mến và còn tiếc. Hai chữ “mến” và “tiếc” là chìa khóa. Mến là tình cảm với người, với nơi chốn; tiếc là cảm giác thiếu hụt khi biết sắp phải xa nó.
Vì thế lưu luyến thường xuất hiện ở ranh giới giữa ở và đi: cuối buổi liên hoan, ngày ra trường, lúc rời quê ngoại sau kì nghỉ hè. Nó không phải nỗi đau lớn. Nó nhẹ, hơi ấm, hơi buồn, giống một cái ngoái đầu.
- Đến bến xe rồi mà bé Na vẫn lưu luyến ôm cổ bà không chịu buông.
- Ánh mắt lưu luyến của thầy khi tiễn lứa học trò cuối cùng trước lúc nghỉ hưu.
- Ba năm ở kí túc xá, lúc trả phòng ai cũng lưu luyến cái ban công nhỏ.
Đối tượng của lưu luyến có thể là người, nơi chốn, cả một quãng thời gian. Có thể lưu luyến mùa hè, lưu luyến tuổi học trò, nhưng hiếm ai nói lưu luyến một món đồ vừa mua.
Những cuộc tiễn đưa trong thơ
Văn chương có cả một mảng thơ tống biệt, và cảm xúc lưu luyến là sợi chỉ chạy qua nó. Bài Đường thi quen thuộc nhất với học sinh là bài Lý Bạch tiễn Mạnh Hạo Nhiên ở lầu Hoàng Hạc. Bài thơ không hề nói “tôi buồn” hay “tôi nhớ”. Hai câu cuối chỉ tả cánh buồm lẻ (cô phàm) xa dần rồi mất hút vào khoảng trời xanh, chỉ còn dòng Trường Giang chảy ngang chân trời. Người tiễn đứng nhìn theo cho tới khi không còn gì để nhìn, ấy là lưu luyến được vẽ ra bằng một ánh mắt. Phần đọc hiểu đầy đủ nằm ở bài tác giả, tác phẩm bài thơ tiễn bạn ở lầu Hoàng Hạc.
Thơ Việt Nam hiện đại có Tống biệt hành của Thâm Tâm, nhưng không khí ở đó khác: người đi cố tỏ ra dứt khoát, còn nỗi lưu luyến dồn sang người ở lại và cả người tiễn. Đặt hai bài cạnh nhau, ta thấy lưu luyến có lúc lộ ra, có lúc bị giấu kĩ. Đọc thêm phần giới thiệu bài thơ tiễn biệt của Thâm Tâm.
Trong văn xuôi lớp 7, truyện Cuộc chia tay của những con búp bê lại cho thấy lưu luyến của trẻ con: hai anh em không nỡ chia đôi hai con búp bê vì chúng vốn luôn ở cạnh nhau.
Quyến luyến, bịn rịn, luyến tiếc khác gì lưu luyến?
| Từ | Nét riêng | Ví dụ |
|---|---|---|
| Lưu luyến | Mến và tiếc nên chưa muốn rời; dùng cho người lẫn nơi chốn, khoảng thời gian | Lưu luyến những ngày ở quê |
| Quyến luyến | Gắn bó, quấn quýt, thiên về quan hệ giữa người với người, kéo dài | Con mèo quyến luyến chủ |
| Bịn rịn | Cử chỉ níu kéo ngay lúc chia tay, nhìn thấy được | Bịn rịn mãi ở cổng trường |
| Luyến tiếc | Tiếc cái đã qua, đã mất, nặng về quá khứ | Luyến tiếc tuổi thơ |
| Vương vấn | Còn vướng lại trong lòng, khó gỡ, hay dùng trong chuyện tình cảm | Vẫn còn vương vấn người cũ |
Điểm khác giữa lưu luyến và bịn rịn có thể nhìn qua thời gian: bịn rịn gói trong mấy phút sát giờ đi, còn lưu luyến có thể kéo dài cả tuần sau khi đã về. Bài nỗi níu kéo của chữ bịn rịn đã tách hai từ này khá kĩ. Trái nghĩa với lưu luyến là dứt khoát, dửng dưng, thờ ơ, hay thành ngữ dứt áo ra đi.
Chữ lưu và chữ luyến trong 留戀
Chữ lưu (留) có nghĩa là ở lại, giữ lại. Thiều Chửu giảng rất gọn: muốn đi mà tạm ở lại thì gọi là lưu. Họ hàng của nó có lưu trú, lưu giữ, lưu niệm, lưu bút. Chữ luyến (戀) là mến, theo Thiều Chửu là trong lòng vương vít vào cái gì không thể dứt ra; cùng gốc có quyến luyến, luyến ái, luyến tiếc.
Đặt hai chữ cạnh nhau, nghĩa của từ hiện ra gần như trọn vẹn: chân muốn ở lại, lòng còn vương vít. Lưu luyến vì thế là từ ghép Hán Việt, không phải từ láy, dù hai tiếng tình cờ cùng phụ âm đầu “l”. Tách riêng, cả “lưu” lẫn “luyến” đều có nghĩa.
Một lỗi nhỏ hay gặp khi viết: dùng lưu luyến cho chuyện muốn giữ đồ vật vì tiếc tiền, như “lưu luyến cái áo cũ không nỡ vứt”. Câu ấy nên đổi thành tiếc hay không nỡ bỏ; lưu luyến cần một chút tình cảm thật phía sau.
Lưu luyến trong lời tạm biệt và trong tiếng Anh
Sự lưu luyến là gì?
Là cảm giác còn mến, còn tiếc khi phải rời xa, được gọi tên như một danh từ. Ví dụ: Sự lưu luyến hiện rõ trên gương mặt từng đứa trong ngày bế giảng.
Lưu luyến tiếng Anh là gì?
Tiếng Anh không có một từ khớp hoàn toàn. Thường dùng reluctant to leave (không muốn rời đi) hoặc động từ linger (nán lại, chần chừ chưa đi). Danh từ attachment gần với nét “gắn bó” của từ.
Lưu luyến là từ láy hay từ ghép?
Là từ ghép Hán Việt, viết chữ Hán là 留戀. Hai tiếng giống nhau ở chữ “l” đầu, nhưng mỗi tiếng đều có nghĩa riêng nên không xếp vào từ láy.
Đặt câu với từ lưu luyến thế nào cho tự nhiên?
Nên gắn từ với một cuộc chia xa có tình cảm thật: Xe đã lăn bánh, cả đoàn vẫn còn lưu luyến vẫy tay chào bản làng. Ở câu văn tả cảm xúc, có thể dùng như tính từ: cái nhìn lưu luyến, lời chào lưu luyến.