Lưỡng quyền là cách gọi Hán Việt của đôi gò má, tức hai chỗ xương nhô lên ở hai bên mặt, ngay dưới góc ngoài của mắt. Hỏi lưỡng quyền nghĩa là gì thì cứ hiểu đơn giản: “lưỡng” là hai, “quyền” là gò má. Từ này hay gặp trong cụm “lưỡng quyền cao” của sách tướng số và trong các bài nói về dáng mặt.
| Nghĩa ngắn | Hai gò má, hai xương gò má |
| Gốc từ | Hán Việt 兩顴: lưỡng (hai) + quyền (xương gò má) |
| Loại từ | Danh từ |
| Sắc thái | Sách vở, cổ; lời nói thường ngày dùng “gò má” |

Lưỡng quyền là bộ phận nào trên khuôn mặt
Từ điển tiếng Việt giảng gò má là chỗ hai bên má nổi cao lên, ở bên dưới góc ngoài của mắt. Lưỡng quyền chỉ đúng hai chỗ ấy, gộp lại thành một từ. Người xưa nói “lưỡng quyền cao” thì nay ta nói “gò má cao”; nói “lưỡng quyền ửng đỏ” thì là hai má ửng đỏ ở phần trên.
Về giải phẫu, phần nhô ấy do xương gò má tạo nên, tiếng Anh gọi là cheekbone hay zygomatic bone. Đây là một cặp xương, mỗi bên mặt một chiếc, nên chữ “lưỡng” (hai) đặt vào rất khớp.
Lưỡng quyền là danh từ và gần như không đứng một mình trong câu nói thường. Ta hay gặp nó đi kèm tính từ: lưỡng quyền cao, lưỡng quyền nhô, lưỡng quyền đầy đặn.
Chữ 兩 và chữ 顴 ghép lại thế nào?
Chữ lưỡng (兩) nghĩa là hai, đôi, cả hai bên. Cùng gốc có những từ quen như lưỡng lự, lưỡng cực, lưỡng toàn, lưỡng viện, hay thành ngữ nhất cử lưỡng tiện (một việc làm mà được hai cái lợi). Chữ này còn đọc là lạng, như trong “nửa cân tám lạng”.
Chữ quyền (顴) có bộ 頁 (đầu, mặt) ở bên phải, cho biết nghĩa liên quan đến khuôn mặt. Thiều Chửu giảng là cái xương gò má; từ ghép 顴骨 (quyền cốt) cũng là xương gò má. Đây là chữ ít gặp, ngoài cụm lưỡng quyền ra hầu như không xuất hiện trong tiếng Việt hằng ngày.
Vì đọc giống nhau, nhiều người tưởng “quyền” ở đây là quyền lực, rồi hiểu lưỡng quyền thành “hai quyền”. Thực ra đó là một cặp từ đồng âm khác nghĩa: 權 là quyền lực, quyền lợi; 顴 là gò má. Viết bằng chữ Hán thì hai chữ khác hẳn nhau.
Gò má, má, quai hàm: đặt các từ cạnh nhau
| Từ | Chỉ chỗ nào | Sắc thái |
|---|---|---|
| Lưỡng quyền | Hai gò má, phần xương nhô dưới mắt | Hán Việt, sách vở, hay gặp trong tướng số |
| Gò má | Như trên | Thuần Việt, dùng hằng ngày |
| Má | Cả vùng mềm hai bên mặt, từ gò má xuống hàm | Thông dụng: má phính, má lúm đồng tiền |
| Quai hàm | Phần xương hàm dưới, hai bên cằm | Thông dụng: quai hàm vuông |
Như vậy từ đồng nghĩa gần nhất của lưỡng quyền là gò má. Nó không có từ trái nghĩa theo đúng nghĩa đen; khi tả dáng mặt, người ta chỉ đối “gò má cao” với “gò má thấp” hay “gò má phẳng”.
Từ tướng số dân gian đến trang văn tả người
Lí do chữ lưỡng quyền còn sống tới nay phần lớn nằm ở nhân tướng học, thứ sách xem tướng mặt vốn rất chuộng từ Hán Việt. Ở đó, gò má cao hay thấp được gắn với đủ lời đoán về tính nết và số phận. Nên đọc những lời ấy như một quan niệm dân gian: chưa có nghiên cứu khoa học nào chứng minh hình dáng xương mặt quyết định tính cách hay đường đời của ai.
Văn chương thì ít dùng thẳng chữ này. Khi tả gương mặt, nhà văn chuộng hình ảnh hơn tên gọi giải phẫu. Nguyễn Du tả Thúy Vân bằng khuôn mặt tròn đầy như vầng trăng, chứ không đếm gò má cao thấp; bạn có thể xem lại đoạn ấy trong đoạn trích tả hai chị em họ Vương. Khi tự viết văn tả người, dùng “gò má” cho tự nhiên; chữ lưỡng quyền chỉ hợp khi muốn giọng văn cổ kính.
Sách tướng dân gian còn để lại những cụm tả mặt khá nặng lời như mặt quắt tai dơi, khi dùng nên cân nhắc kẻo thành chê bai.
Thắc mắc quanh chữ lưỡng quyền
Lưỡng quyền nghĩa là gì?
Là hai gò má, tức hai chỗ xương nhô ở hai bên mặt, dưới góc ngoài của mắt. Đây là từ Hán Việt, nay thường chỉ gặp trong sách tướng số hoặc văn viết có màu sắc cổ.
Lưỡng quyền cao là gì?
Là gò má cao, xương gò má nhô rõ lên so với các phần khác của khuôn mặt. Đây chỉ là một đặc điểm dáng mặt, không tốt cũng không xấu.
Lưỡng quyền có liên quan đến quyền lực không?
Không. Chữ quyền trong lưỡng quyền (顴) là xương gò má, khác hẳn chữ quyền (權) trong quyền lực, quyền lợi. Hai chữ chỉ đọc giống nhau.
Viết văn nên dùng lưỡng quyền hay gò má?
Phần lớn trường hợp nên dùng “gò má” cho rõ và gần gũi. Lưỡng quyền phù hợp khi nhân vật hay giọng kể mang màu sắc xưa, hoặc khi trích lời của sách tướng.