Khiếm khuyết là chỗ thiếu sót, chỗ chưa đủ khiến một vật, một việc hay một con người chưa trọn vẹn. Từ này gốc Hán Việt, nghe trang trọng hơn “thiếu sót” hay “lỗi”, nên hay gặp trong văn viết, báo cáo, nhận xét. Hỏi “khiếm khuyết nghĩa là gì” thì cũng nên biết nó khác khuyết điểm và khuyết tật ở chỗ nào, vì ba từ này rất hay bị dùng lẫn.
| Nghĩa | Thiếu sót, chỗ chưa hoàn chỉnh, chưa đầy đủ |
| Gốc từ | Hán Việt 欠缺: khiếm (thiếu) + khuyết (sứt mẻ, thiếu) |
| Loại từ | Danh từ (một khiếm khuyết), đôi khi dùng như tính từ (còn khiếm khuyết) |
| Sắc thái | Trang trọng, hơi kiểu cách; nhẹ hơn khuyết tật, khái quát hơn lỗi |

Khiếm khuyết và một cái ngáp
Chữ khiếm (欠) trong tự điển Thiều Chửu có ba nghĩa, và nghĩa đứng đầu lại là ngáp, như trong khiếm thân (vươn vai ngáp). Nghĩa thứ hai mới là thiếu, không đủ; nghĩa thứ ba là nợ, còn thiếu tiền người ta. Từ một cái miệng há ra đến chỗ trống, chỗ hụt, đường đi của chữ nghe lạ mà dễ nhớ. Cũng chữ khiếm này nằm trong khiếm nhã (thiếu lịch sự), khiếm thị (thị lực kém), khiếm thính (thính lực kém).
Chữ khuyết (缺) thuộc bộ phũ 缶, tức cái vò sành. Nghĩa đầu của nó là đồ bị sứt mẻ, rồi mở ra nghĩa chưa tốt hẳn, còn thiếu, và nghĩa chức vị còn trống. Trăng khuyết là trăng như bị sứt một miếng; bổ khuyết là lấp chỗ trống; khuyết điểm là điểm còn sứt mẻ.
Ghép hai chữ cùng mang ý thiếu, khiếm khuyết là kiểu từ ghép đẳng lập, hai yếu tố cùng nghĩa đứng cạnh nhau để nói chắc thêm. Hình ảnh gói gọn nhất là một chiếc vò có vết mẻ ở miệng: vẫn đựng được nước, vẫn dùng được, nhưng không còn lành lặn.
Dùng khiếm khuyết trong câu
Từ điển tiếng Việt ghi khiếm khuyết là thiếu sót, gắn nhãn kiểu cách, nghĩa là từ này mang màu trang trọng, sách vở hơn lời nói thường. Ví dụ từ điển đưa ra là còn nhiều khiếm khuyết, và đồng nghĩa là khuyết thiếu. Trong thực tế, từ này gặp ở mấy kiểu ngữ cảnh:
- Nhận xét công việc, sản phẩm: Bản thiết kế còn một khiếm khuyết ở phần thoát nước.
- Bàn về luật lệ, hệ thống: Quy chế cũ bộc lộ nhiều khiếm khuyết khi áp dụng cho lớp học trực tuyến.
- Nói về con người, giọng tự nhận: Tôi biết mình có khiếm khuyết, nóng tính là một.
- Câu văn có màu triết lý: Chính những khiếm khuyết làm nên nét riêng của một người.
Lời nói hằng ngày ít ai bảo “bài này nhiều khiếm khuyết quá”; người ta nói “bài này còn nhiều lỗi”. Viết bài văn, viết nhận xét, viết báo cáo thì khiếm khuyết lại hợp, vì nó nghe khách quan và bớt nặng nề.
Khiếm khuyết, khuyết điểm, nhược điểm, khuyết tật
| Từ | Trọng tâm | Ví dụ |
|---|---|---|
| Khiếm khuyết | Chỗ thiếu, chỗ chưa trọn; dùng cho cả vật, việc, người, hệ thống | Khiếm khuyết trong quy trình |
| Khuyết điểm | Điều sai, điều thiếu sót trong hành động, suy nghĩ, tư cách của người; đối với ưu điểm | Nhận khuyết điểm trước lớp |
| Nhược điểm | Mặt yếu, mặt kém so với cái khác; trung tính, dùng nhiều khi so sánh | Nhược điểm của xe điện là thời gian sạc |
| Khuyết tật | Sai sót vốn có trên sản phẩm; hoặc tật bẩm sinh, tật lâu dài trên cơ thể | Gốm ra lò có khuyết tật; trẻ khuyết tật |
| Trái nghĩa | Hoàn hảo, hoàn chỉnh, toàn vẹn, trọn vẹn | Một tác phẩm gần như hoàn hảo |
Chỗ dễ dùng sai nhất là ranh giới giữa khiếm khuyết và khuyết tật. Khuyết điểm thường gắn với lỗi của người, có thể sửa; khiếm khuyết rộng hơn, chỉ cần chưa trọn là dùng được. Còn khi nói về người có tật trên cơ thể, cách gọi chuẩn trong văn bản là người khuyết tật; các từ khiếm thị, khiếm thính dùng cho từng loại cụ thể. Viết “người khiếm khuyết” để chỉ người khuyết tật thì mơ hồ, lại dễ khiến người đọc hiểu là “người có thiếu sót”, nên tránh. Một mặt yếu theo nghĩa so sánh thì có bài riêng về chữ nhược điểm 弱點.
Sống cùng khiếm khuyết: góc nhìn cho bài nghị luận
Đề “Suy nghĩ về việc chấp nhận khiếm khuyết của bản thân” có thể đi theo ba ý. Thứ nhất, ai cũng có khiếm khuyết; nhận ra chúng là dấu hiệu tự hiểu mình, không phải tự hạ mình. Thứ hai, chấp nhận không có nghĩa là đứng yên: khiếm khuyết nào sửa được thì sửa, như tính hay trễ hẹn; cái nào không đổi được, như chiều cao, thì thôi đem ra so. Thứ ba, đòi mình không được có một vết mẻ nào dễ dẫn đến căng thẳng và bỏ dở; thói đòi mọi thứ phải trọn vẹn này được bàn kỹ ở bài tính cầu toàn và cái giá của nó.
Người Nhật có một quan niệm thẩm mỹ coi cái không hoàn hảo, cái cũ, cái sứt mẻ là có vẻ đẹp riêng; xem bài triết lý wabi sabi. Đó là dẫn chứng gọn cho ý “khiếm khuyết làm nên nét riêng”. Nhớ một chỗ: khi viết về bạn bè có khuyết tật cơ thể, dùng đúng chữ khuyết tật, đừng gọi chung là khiếm khuyết.
Khiếm khuyết: chữ Hán, tiếng Anh và cách gọi người
Khiếm khuyết là từ Hán Việt hay thuần Việt?
Hán Việt, viết 欠缺. Cả hai chữ đều mang nghĩa thiếu: khiếm là không đủ, khuyết là sứt mẻ, còn trống. Tiếng Trung hiện đại vẫn dùng 欠缺 với nghĩa thiếu, còn thiếu.
Khiếm khuyết tiếng Anh là gì?
Tùy ngữ cảnh: defect cho lỗi của sản phẩm, flaw cho vết, chỗ hỏng hoặc nhược điểm tính cách, shortcoming cho thiếu sót của người hay kế hoạch, imperfection cho sự không hoàn hảo nói chung.
Người khiếm khuyết có phải người khuyết tật không?
Không nên dùng như vậy. Văn bản và báo chí dùng “người khuyết tật”; muốn cụ thể hơn thì nói người khiếm thị, người khiếm thính. “Người khiếm khuyết” không phải cách gọi chuẩn và dễ gây hiểu lầm.
Từ trái nghĩa với khiếm khuyết là gì?
Gần nhất là hoàn hảo, hoàn chỉnh, toàn vẹn. Ví dụ: Không có kế hoạch nào hoàn hảo, chỉ có kế hoạch được sửa dần cho bớt khiếm khuyết. Trong văn chương hay gặp thêm chữ vẹn toàn, tròn đầy.