Khắc khoải là khi lòng cứ thấp thỏm, lo âu mãi không dứt, thường vì mong đợi hay nhớ thương một điều chưa tới. Từ này còn dùng cho âm thanh buồn, lặp đi lặp lại không dứt, như tiếng chim cuốc kêu đêm hè. Nói “nỗi khắc khoải” là gọi tên chính cảm giác chờ mãi mà lòng chẳng yên ấy.
| Nghĩa ngắn | Bồn chồn, không yên, day dứt kéo dài; (âm thanh) buồn, lặp lại triền miên |
| Cấu tạo | Từ láy âm đầu (kh – kh), thuần Việt |
| Loại từ | Tính từ; “nỗi khắc khoải”, “sự khắc khoải” là cách danh từ hóa |
| Sắc thái | Buồn, da diết, thiên về văn chương |

Khắc khoải: nỗi chờ không chịu yên
Hình dung một người mẹ ngồi bên cửa sổ đêm khuya, con đi xa chưa có tin. Không khóc, không than, chỉ chốc chốc lại nhìn ra ngõ. Cái cảm giác cứ treo lơ lửng trong lòng, ngày này qua ngày khác, chính là khắc khoải.
Mục từ khắc khoải trong từ điển của Viện Ngôn ngữ học ghi nó là tính từ, chỉ một tâm trạng lo âu, nôn nao, không lúc nào yên, cứ dai dẳng ngày này sang ngày khác. Đi kèm là những cụm như khắc khoải đợi chờ, lo âu khắc khoải. Từ điển Việt – Việt của nhóm Hồ Ngọc Đức thêm nét nghĩa thứ hai: nói về tiếng kêu, tiếng hát lặp lại mãi một điệu, nghe buồn não.
Hai nét nghĩa ấy dính vào nhau rất chặt. Người xưa nghe tiếng cuốc kêu ròng rã suốt mùa hè, thấy nó giống hệt nỗi lòng người đang mong ngóng, thế là một chữ dùng cho cả hai. Đến giờ, câu cuốc kêu khắc khoải vẫn là ví dụ quen nhất của từ này.
Có hai điều nên nhớ khi dùng. Khắc khoải chỉ nỗi không yên kéo dài: hồi hộp năm phút trước giờ thi thì gọi là hồi hộp, không ai gọi là khắc khoải. Và nó gần như luôn có một đối tượng để chờ, để nhớ: tin nhà, người yêu, quê hương, một kết quả.
Từ tiếng cuốc đến khúc ngâm cung oán
Trong văn học trung đại, khắc khoải hay gắn với tiếng chim cuốc (đỗ quyên). Điển cũ kể vua nước Thục mất nước, hồn hóa thành chim cuốc, đêm đêm kêu ròng rã vì nhớ nước. Bài Cuốc kêu cảm hứng của Nguyễn Khuyến dùng đúng chữ này để tả giọng chim, và các bản chép cũng không hoàn toàn thống nhất ở câu mở đầu.
Nguyễn Gia Thiều đặt chữ khắc khoải vào lòng người cung nữ bị bỏ quên trong Cung oán ngâm khúc:
Buồn một nỗi hồn đà khắc khoải,
Ngán trăm chiều bước lại ngẩn ngơ.
Bản trên Wikisource chép “Buồn một nỗi hồn đà”, có bản khác chép “Buồn mọi nỗi lòng đà”. Dù là “hồn” hay “lòng”, câu thơ vẫn cho thấy khắc khoải là thứ buồn ở bên trong, đi cùng bước chân ngẩn ngơ ở bên ngoài. Đặt khắc khoải cạnh ngẩn ngơ, hai từ láy cùng gợi một người đứng ngồi không yên.
Học sinh cũng gặp lại sắc thái ấy khi đọc thơ viết về nỗi nhớ. Người mắc bệnh tương tư thường khắc khoải; người chờ tin chồng nơi biên ải cũng thế. Muốn hiểu vì sao khắc khoải xếp vào nhóm láy âm đầu, xem bài phân loại từ láy kèm ví dụ SGK.
Đặt cạnh bồn chồn, day dứt, da diết
| Từ | Điểm riêng | Ví dụ |
|---|---|---|
| Khắc khoải | Không yên, kéo dài, có điều để chờ hoặc nhớ | Khắc khoải chờ thư con |
| Bồn chồn | Nôn nao, ngồi không yên, thường ngắn hơn | Bồn chồn trước giờ công bố điểm |
| Day dứt | Ám ảnh vì một điều đã qua, thường là hối tiếc | Day dứt vì lời nói nặng với mẹ |
| Da diết | Mạnh và thấm, nghiêng về nhớ thương hơn là lo | Nhớ quê da diết |
| Khắc khổ | Không cùng nghĩa: sống kham khổ, nghiêm ngặt với bản thân | Gương mặt khắc khổ |
Ngoài ra, thấp thỏm, nôn nao, trăn trở cũng nằm gần khắc khoải. Ở phía ngược lại là thanh thản, yên lòng, thư thái.
Chỗ hay viết sai nhất là dấu: khắc khoải có thanh hỏi ở chữ sau, không phải “khắc khoãi”. Chữ khắc khổ thì chỉ giống ở tiếng đầu, đừng thay vào; “nét mặt khắc khoải” là gương mặt đang mong ngóng, còn “nét mặt khắc khổ” là gương mặt in dấu vất vả.
Khắc khoải trong câu văn và lời nói thường ngày
Khắc khoải nghĩa là gì trong một câu thơ?
Trong thơ, khắc khoải thường tả hai thứ cùng lúc: một âm thanh buồn kéo dài và tâm trạng người nghe. Khi gặp “tiếng cuốc khắc khoải” hay “lòng khắc khoải”, có thể hiểu là nỗi mong ngóng, buồn nhớ không dứt.
Nỗi khắc khoải là gì?
Là chính cảm giác bồn chồn, mong ngóng kéo dài, khi khắc khoải được dùng như danh từ. Ví dụ: “Nỗi khắc khoải của những người mẹ có con đi làm xa cứ dồn lại vào mỗi dịp cuối năm.”
Khắc khoải là từ láy hay từ ghép?
Khắc khoải là từ láy bộ phận, láy âm đầu “kh”. Tách riêng, “khoải” không có nghĩa độc lập trong tiếng Việt hiện đại, nên không thể coi đây là từ ghép.
Khắc khoải tiếng Anh là gì?
Tùy câu mà dịch là anxious, restless hoặc yearning. Khi nhấn vào nỗi mong ngóng, “anxiously waiting” hay “yearning” sát ý hơn; khi tả tiếng chim buồn, có thể dùng “plaintive”.