Tương tư là nhớ một người da diết, ngày đêm không nguôi, thường là nỗi nhớ trong tình yêu nam nữ. Chữ này có gốc Hán Việt, xưa nay quen mặt trong thơ ca hơn là trong lời nói hằng ngày. Người ta nói “ốm tương tư”, “bệnh tương tư” khi nỗi nhớ làm mình biếng ăn, mất ngủ, ngồi đâu cũng nghĩ về một người.
| Nghĩa ngắn | Nhớ nhung một người tới mức không lúc nào dứt, thường là người mình yêu |
| Gốc từ | Hán Việt 相思: tương (lẫn nhau) + tư (nghĩ, nhớ) |
| Loại từ | Thường dùng như động từ hoặc tính từ: “đang tương tư”, “nỗi tương tư” |
| Sắc thái | Văn chương, hơi cổ; nói đùa trong đời thường thì mang vẻ trêu chọc nhẹ |

Tương tư nghĩa là gì theo từ điển?
Wiktionary tiếng Việt ghi tương tư là nhớ da diết, không lúc nào nguôi, thường là nhớ người yêu, kèm ví dụ quen thuộc ốm tương tư. Cái lõi của từ nằm ở hai chữ “không nguôi”. Nhớ một người bạn cũ vài phút khi nghe lại bài hát thì chưa gọi là tương tư. Tương tư là khi nỗi nhớ bám theo mình suốt ngày, chen vào cả giờ học, giờ làm.
Vài cách dùng cho dễ hình dung:
- Văn chương: Chàng trai tương tư cô gái thôn bên suốt một mùa lúa.
- Lời trêu bạn bè: Dạo này nó cứ ngẩn ngơ, chắc đang tương tư ai rồi.
- Dùng như danh từ: Nỗi tương tư làm anh mất ngủ mấy đêm liền.
Còn “bệnh tương tư” chỉ là cách nói ví von, không phải một chứng bệnh y học. Người xưa gọi là bệnh vì nỗi nhớ quá sức có thể khiến người ta gầy rộc, lơ đãng, chẳng thiết làm gì.
Hai chữ 相思: vốn là nhớ nhau
Chữ tương (相) nghĩa là lẫn nhau, qua lại, như trong tương trợ, tương thân tương ái, tương phản. Chữ tư (思) là nghĩ, nhớ, gặp trong tư duy, tư tưởng, suy tư. Các từ điển Hán Việt giảng 相思 gọn là “nhớ nhau”.
Điều thú vị là theo chữ thì tương tư là nhớ qua lại giữa hai người, nhưng khi đi vào tiếng Việt, nó thường được dùng cho nỗi nhớ của một phía. Chàng trai trong thơ ngồi nhớ, còn cô gái bên kia có khi chẳng hay biết gì. Vì vậy nhiều người hiểu tương tư gần như yêu thầm, dù về gốc chữ hai việc này không trùng nhau hoàn toàn.
Nỗi tương tư trong Truyện Kiều và thơ Nguyễn Bính
Nguyễn Du dùng chữ này ở đoạn Kiều nhờ em gái thay mình kết duyên với Kim Trọng:
Giữa đường đứt gánh tương tư,
Tình yêu được hình dung như một gánh nặng hai người cùng mang; giờ gánh đứt ngang đường, chỉ còn người ở lại mang nỗi nhớ. Cả đoạn được phân tích kĩ trong bài soạn Trao duyên lớp 11.
Hơn một thế kỉ sau, Nguyễn Bính đặt luôn chữ này làm nhan đề một bài thơ lục bát, với hai câu nhiều người thuộc:
Gió mưa là bệnh của giời,
Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.
Một số bản in ghi “trời” thay cho “giời”. Cái hay của hai câu là chàng trai coi nỗi nhớ của mình tự nhiên như mưa gió: đã yêu thì tất phải tương tư, chẳng trách được. Người muốn đọc trọn bài có thể xem văn bản và bố cục bài thơ Tương tư.
Tương tư, yêu đơn phương, thương nhớ: chọn từ nào?
| Từ | Điểm nhấn | Ví dụ |
|---|---|---|
| Tương tư | Trạng thái nhớ da diết, không nguôi; có thể một phía hoặc hai phía | Ốm tương tư cả tháng |
| Yêu đơn phương | Tình cảm chỉ từ một phía, người kia không đáp lại hoặc không biết | Yêu đơn phương cô bạn cùng bàn |
| Thương nhớ, nhớ nhung | Nỗi nhớ nói chung, dùng được cho người thân, quê nhà | Thương nhớ mẹ, nhớ nhung quê cũ |
| Si tình | Say mê đến mức mù quáng, dễ chịu thiệt | Chàng si tình đứng đợi dưới mưa |
Nói gọn: yêu đơn phương nói về hướng của tình cảm, còn tương tư nói về mức độ của nỗi nhớ. Một người yêu đơn phương thường hay tương tư, nhưng hai người yêu nhau mà xa cách cũng có thể tương tư nhau. Chuyện thương thầm một phía được kể kĩ hơn ở bài giải nghĩa chuyện yêu mà không được đáp lại.
Từ trái nghĩa trực tiếp thì tiếng Việt không có, nhưng có thể đối lại bằng những trạng thái như dửng dưng, thờ ơ, quên lãng.
Khi nỗi nhớ hướng về cha mẹ, quê nhà chứ không riêng người yêu, những từ thay hợp hơn nằm ở các từ cùng nghĩa với nhớ nhung.
Đôi điều thắc mắc về tương tư
Bệnh tương tư là gì?
Đó là cách nói văn chương chỉ trạng thái nhớ người thương đến mức ăn không ngon, ngủ không yên, lúc nào cũng thẫn thờ. Không có bệnh nào trong y học mang tên này; nếu buồn bã kéo dài, ảnh hưởng tới sức khỏe thì nên tâm sự với người thân hoặc tìm người có chuyên môn.
Tương tư có phải là yêu đơn phương không?
Không hẳn. Tương tư là nỗi nhớ da diết; yêu đơn phương là tình cảm một chiều. Hai thứ hay đi cùng nhau nên dễ bị dùng lẫn, nhưng người đang yêu nhau mà ở xa cũng có thể tương tư.
Tương tư tiếng Anh là gì?
Tiếng Anh thường dịch bằng lovesick (ốm tương tư) hoặc động từ pine for someone, tức mòn mỏi nhớ ai đó.
Chữ tương trong tương tư có giống chữ tương trong tương lai không?
Khác chữ. Tương trong tương tư là 相 (lẫn nhau), còn tương trong tương lai là 將 (sắp tới). Hai chữ chỉ trùng âm đọc Hán Việt.