Kết bài Ông đồ là đoạn khép lại bài văn phân tích, cảm nhận bài thơ năm chữ Vũ Đình Liên viết năm 1936, văn bản học ở Bài 2 sách Ngữ văn 7 Cánh diều (tập một). Kết bài hay cần đánh giá được niềm thương cảm dành cho ông đồ, nỗi nhớ tiếc một thời đã qua cùng lối thơ giản dị mà hàm súc, rồi để lại một suy nghĩ riêng. Bài viết gồm 13 mẫu kết bài đã viết hoàn chỉnh: ngắn gọn, tổng kết, liên hệ, mở rộng và các mẫu riêng cho từng dạng đề.

Cách viết kết bài Ông đồ
- Gọi lại tên bài thơ Ông đồ và Vũ Đình Liên, tóm vấn đề vừa phân tích trong một câu.
- Đánh giá cả nội dung (hai thời của ông đồ, lòng thương người, niềm hoài cổ) lẫn nghệ thuật (thể năm chữ, kết cấu vòng tròn, nhân hóa, mượn cảnh nói tình, câu hỏi tu từ).
- Đề chỉ hỏi hai khổ đầu, khổ ba – bốn hay khổ cuối thì khép đúng phần ấy rồi mới nhìn ra toàn bài.
- Liên hệ nên gần gũi: phiên chợ chữ ngày Tết, ý thức giữ gìn tiếng Việt và các nếp đẹp truyền thống.
Kết bài Ông đồ ngắn gọn, tổng kết
Mẫu 1 – ngắn gọn
Chỉ với hai mươi câu thơ năm chữ, Vũ Đình Liên đã kể trọn cuộc đời của một ông đồ từ khi đông khách đến lúc vắng bóng. Bài thơ Ông đồ là lời thương cảm dành cho một lớp người bị thời thế bỏ quên và cũng là lời nhắc nhẹ nhàng về những giá trị xưa cần được trân trọng.
Mẫu 2 – tóm lược giá trị nội dung và nghệ thuật
Bằng thể thơ năm chữ quen thuộc và lời thơ giản dị như một câu chuyện kể, Vũ Đình Liên đã dựng nên trong bài thơ Ông đồ hai bức tranh đối lập: phố Tết rộn ràng quanh nét chữ tài hoa và góc phố hiu quạnh với giấy đỏ phai, mực đọng. Kết cấu đầu cuối hô ứng, phép nhân hóa và lối mượn cảnh nói tình giúp nhà thơ nói được nỗi buồn mà không cần gọi tên. Qua đó, bài thơ bày tỏ niềm cảm thương trước cảnh ngộ của những nhà nho cuối mùa và nỗi tiếc nhớ một nếp sinh hoạt từng gắn bó với ngày Tết của người Việt.
Mẫu 3 – khẳng định vị trí tác phẩm và tác giả
Vũ Đình Liên sáng tác không nhiều, nhưng bài thơ Ông đồ, ra đời năm 1936 và in trên báo Tinh hoa, đã đủ để tên ông được nhắc đến mỗi khi người ta nói về những năm đầu của phong trào Thơ mới. Gần một thế kỉ trôi qua, bài thơ vẫn có mặt trong sách giáo khoa, được học trò nhiều thế hệ thuộc lòng và được nhắc lại mỗi độ xuân về. Sức sống ấy đến từ một tấm lòng chân thành: nhà thơ không lên giọng than thở mà chỉ lặng lẽ kể, để nỗi xót xa tự thấm vào người đọc. Ông đồ vì thế xứng đáng đứng vào hàng những bài thơ tiêu biểu nhất cho cảm hứng hoài cổ của Thơ mới.
Kết bài Ông đồ có liên hệ, mở rộng
Mẫu 4 – liên hệ bản thân và cuộc sống hôm nay
Ngày nay, mỗi dịp Tết đến, ở Văn Miếu – Quốc Tử Giám và nhiều con phố khác, những người viết thư pháp lại bày giấy, mài mực cho chữ đầu xuân. Đứng giữa dòng người xin chữ, em chợt nhớ đến bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên và mừng vì nét đẹp ấy chưa mất hẳn. Nhưng bài thơ cũng giúp em hiểu rằng giữ gìn truyền thống không thể chỉ dừng ở những ngày lễ. Đó là học cho đúng, nói và viết tiếng Việt cho chuẩn, quý trọng những người đang âm thầm giữ các nghề xưa, để mai sau không ai phải hỏi trong tiếc nuối như nhà thơ năm nào.
Mẫu 5 – mở rộng sang Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân
Đặt bài thơ Ông đồ bên cạnh Chữ người tử tù trong tập Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân, ta thấy hai nhà văn cùng quý trọng cái đẹp của nét chữ và cùng xót xa khi cái đẹp ấy không còn chỗ đứng. Nếu Nguyễn Tuân để Huấn Cao cho chữ giữa ngục tối như một cuộc tôn vinh cái đẹp, thì Vũ Đình Liên lại cho thấy nét chữ tài hoa dần bị lãng quên giữa phố đông. Mỗi tác phẩm một giọng điệu, nhưng cùng gặp nhau ở tấm lòng nâng niu vốn văn hóa của cha ông. Đó là lí do bài thơ của Vũ Đình Liên vẫn còn nguyên sức lay động.
Mẫu 6 – khép lại bằng nhận định của Hoài Thanh
Hoài Thanh từng nhận xét thơ Vũ Đình Liên được nuôi dưỡng bởi “lòng thương người và tình hoài cổ”. Khép lại bài thơ Ông đồ, ta hiểu vì sao nhà phê bình đặt hai nguồn cảm xúc ấy cạnh nhau. Thương ông đồ ngồi trơ trọi giữa phố vắng cũng là tiếc một thời chữ nghĩa được nâng niu; nhớ cảnh cũ cũng là xót cho những con người bị thời cuộc đẩy ra bên lề. Chính sự quyện chặt ấy giúp bài thơ năm chữ nhỏ bé trở thành một trong những thi phẩm giàu tính nhân văn của phong trào Thơ mới.
Mẫu 7 – trở lại hình ảnh hoa đào ở đầu bài thơ
Bài thơ Ông đồ bắt đầu bằng sắc hoa đào và cũng khép lại bằng sắc hoa đào. Thế nhưng mùa xuân ở cuối bài đã khác hẳn: “Năm nay đào lại nở / Không thấy ông đồ xưa”. Thiên nhiên vẫn tuần hoàn, Tết vẫn đến đúng hẹn, chỉ có con người và nếp xưa là không trở lại. Bằng kết cấu vòng tròn ấy, Vũ Đình Liên biến một bài thơ ngắn thành bức tranh về dòng chảy thời gian, nơi niềm vui ngày cũ chỉ còn là kí ức. Gấp trang sách, người đọc không khỏi bâng khuâng trước sự mong manh của những điều tưởng như còn mãi.
Mẫu 8 – từ câu hỏi tu từ khép bài thơ
Câu hỏi cuối bài thơ Ông đồ, “Những người muôn năm cũ / Hồn ở đâu bây giờ?”, cứ ngân lên mãi khi trang sách đã khép. Vũ Đình Liên không chờ một lời đáp, bởi ông biết những gì đã qua không thể tìm lại. Nhưng chính sự day dứt ấy lại thành lời nhắc cho người đọc hôm nay: đừng để những vẻ đẹp của cha ông lặng lẽ mất đi rồi mới ngậm ngùi tiếc nhớ. Vì vậy, điều bài thơ để lại không chỉ là nỗi buồn của một thời, mà còn là lời gửi gắm cho các thế hệ mai sau.
Kết bài Ông đồ theo đề thường gặp
Mẫu 9 – cho đề phân tích hình ảnh ông đồ
Nhân vật chính trong bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên đi qua hai thời đối lập: thời được trọng vọng giữa phố Tết đông vui và thời bị lãng quên trong mưa bụi, lá vàng. Qua sự đổi thay ấy, nhà thơ cho thấy số phận đáng thương của những nhà nho khi Hán học tàn lụi, đồng thời bày tỏ lòng cảm thông sâu sắc với họ. Ông đồ khuất dần ở cuối bài như một bóng dáng của quá khứ, nhưng lại sống mãi trong lòng người đọc như biểu tượng của một nét văn hóa đáng trân trọng.
Mẫu 10 – cho đề phân tích hai khổ thơ đầu
Hai khổ thơ đầu bài Ông đồ đã tái hiện thời hoàng kim của nhân vật với tất cả vẻ rực rỡ của phố phường ngày Tết. Sắc đào, màu giấy đỏ, dòng người tấp nập và những lời trầm trồ trước nét chữ tài hoa làm nên một bức tranh ấm áp, rộn ràng. Vũ Đình Liên kể bằng giọng thơ nhẹ nhàng, nhưng người đọc đã thấp thoáng nhận ra một nỗi lo ẩn sau, bởi ông đồ chỉ xuất hiện khi Tết đến và niềm vui của ông phụ thuộc cả vào sự ưa chuộng của người đời. Đoạn thơ vì thế là cái nền để những khổ sau càng thêm xót xa.
Mẫu 11 – cho đề phân tích khổ ba và khổ bốn
Khổ ba và khổ bốn là đoạn buồn nhất mà Vũ Đình Liên viết về nhân vật trong bài thơ Ông đồ. Không cần một lời than, chỉ một câu “Lá vàng rơi trên giấy” cũng đủ để người đọc cảm nhận sự tàn tạ, hiu hắt phủ lên cả người lẫn cảnh. Giấy phai màu, mực đọng lại trong nghiên, khách qua đường thờ ơ, ông đồ ngồi lặng giữa trời mưa bụi như một chứng nhân cô độc của thời tàn. Đoạn thơ cho thấy tài mượn cảnh nói tình của nhà thơ và tấm lòng nhân hậu của ông trước một kiếp người lỡ thời.
Mẫu 12 – ngắn gọn, cho đoạn văn ghi lại cảm xúc
Đọc xong bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên, em cứ nghĩ mãi về ông cụ ngồi một mình bên phố giữa những ngày Tết vắng khách. Em thương ông và cũng tiếc cho một nét đẹp của ngày xuân xưa. Bài thơ nhắc em biết quý những điều truyền thống còn lại quanh mình.
Kết bài Ông đồ nâng cao (học sinh giỏi)
Mẫu 13 – suy ngẫm về cái mới và cái cũ
Có những bài thơ được nhớ vì vẻ lộng lẫy của ngôn từ, lại có những bài được nhớ vì một nỗi buồn giản dị mà khó nguôi. Ông đồ của Vũ Đình Liên thuộc loại thứ hai. Không cầu kì, không triết lí, bài thơ chỉ kể chuyện một ông già bán chữ, vậy mà chạm tới một quy luật lớn của đời sống: cái mới luôn thay thế cái cũ, nhưng không phải điều gì bị thay thế cũng đáng bị quên đi. Gần một thế kỉ sau ngày bài thơ ra đời, nhiều giá trị xưa vẫn đứng trước nguy cơ mai một giữa nhịp sống hiện đại. Đọc lại Ông đồ, mỗi người như được nhắc phải biết dừng chân trước những điều tưởng nhỏ bé ấy, để thế hệ sau không còn phải ngậm ngùi hỏi về hồn xưa đã mất.
Nên chọn mẫu kết bài Ông đồ nào?
Mỗi mẫu kết bài Ông đồ ở trên đều khép lại bằng một đánh giá về bức chân dung ông đồ và tấm lòng của Vũ Đình Liên, nhưng theo những hướng khác nhau. Đề phân tích cả bài nên dùng mẫu tổng kết hoặc mẫu nâng cao; đề hỏi một khổ thơ hay hình ảnh nhân vật thì chọn mẫu theo dạng đề rồi thêm một câu nhìn lại toàn bài. Đừng quên viết lại bằng lời của mình để phần kết ăn khớp với mở bài đã chọn.
Xem thêm: