Mở bài Ông đồ là phần mở đầu bài văn phân tích, cảm nhận bài thơ năm chữ của Vũ Đình Liên, văn bản học ở Bài 2 sách Ngữ văn 7 Cánh diều (tập một). Một mở bài tốt cần giới thiệu được nhà thơ, hình ảnh ông đồ già ngồi bán chữ mỗi dịp Tết và niềm thương người, tiếc cảnh cũ mà bài thơ gửi gắm. Bài viết gồm 14 mẫu mở bài đã viết hoàn chỉnh: trực tiếp, gián tiếp, theo từng dạng đề và nâng cao.

Cách viết mở bài Ông đồ
- Giới thiệu Vũ Đình Liên (gương mặt có mặt từ buổi đầu phong trào Thơ mới, thơ thấm đẫm tình thương người và nỗi nhớ tiếc quá khứ) cùng bài thơ Ông đồ (viết năm 1936, thể năm chữ).
- Nêu đúng phạm vi đề hỏi: cả bài thơ, hình ảnh nhân vật ông đồ, hai khổ đầu, khổ ba – bốn hay khổ cuối.
- Mở gián tiếp có thể đi từ tục xin chữ ngày Tết, từ quy luật của thời gian, từ nhận xét của Hoài Thanh hoặc từ một tác phẩm cùng cảm hứng như Vang bóng một thời.
- Nếu trích thơ, chỉ chọn một, hai câu tiêu biểu và chép đúng nguyên văn trong sách Ngữ văn 7.
- Câu cuối mở bài nên dẫn thẳng vào vấn đề sẽ bàn ở thân bài.
Mở bài trực tiếp Ông đồ
Mẫu 1 – trực tiếp, ngắn gọn
Vũ Đình Liên không để lại nhiều tác phẩm, nhưng riêng bài thơ Ông đồ cũng đủ giữ tên ông trong lòng bạn đọc. Bài thơ năm chữ ngắn gọn kể lại cảnh một ông đồ già từ lúc đông khách đến khi bị lãng quên, qua đó bày tỏ niềm thương cảm cho một lớp người và nỗi tiếc nhớ một nếp văn hóa đã lùi vào quá khứ.
Mẫu 2 – trực tiếp, giới thiệu đầy đủ tác giả – tác phẩm – vấn đề
Vũ Đình Liên (1913–1996) vừa là nhà giáo, vừa là cây bút góp mặt từ buổi đầu của phong trào Thơ mới. Gia tài thơ của ông không dày, nhưng bài thơ Ông đồ, viết theo thể năm chữ, đã trở thành thi phẩm quen thuộc với nhiều thế hệ học trò. Bằng lời kể giản dị và kết cấu vòng tròn đầu cuối, bài thơ dựng lại hai thời của một ông đồ: thời người người tìm đến thuê viết và thời ngồi lặng lẽ bên phố vắng. Đằng sau hình ảnh ấy là tấm lòng nhà thơ xót xa cho những nhà nho cuối mùa, cùng nỗi băn khoăn trước sự phai nhạt của một nét sinh hoạt văn hóa xưa. Đó cũng là vấn đề bài viết sẽ đi sâu tìm hiểu.
Mẫu 3 – từ hoàn cảnh sáng tác
Từ khi khoa thi Hội cuối cùng của Nho học khép lại năm 1919, người theo đòi chữ Nho không còn đường tiến thân. Đến những năm ba mươi của thế kỉ XX, khi chữ Quốc ngữ và lối sống Âu hóa lan rộng ở các đô thị, những ông đồ từng được trọng vọng phải mang chữ ra phố bán mỗi dịp Tết, rồi đến việc ấy cũng thưa dần. Chứng kiến cảnh đó, năm 1936 Vũ Đình Liên viết bài thơ Ông đồ và cho in trên báo Tinh hoa. Bài thơ là bức chân dung buồn của một ông đồ lỡ thời, đồng thời ghi dấu niềm ngậm ngùi của nhà thơ trước sự tàn phai của một nếp sống từng gắn bó với người Việt qua bao thế hệ.
Mở bài gián tiếp Ông đồ
Mẫu 4 – từ tục xin chữ ngày Tết
Xưa kia, sắm Tết ở làng quê hay phố thị, người Việt thường dành một khoản để mua đôi câu đối hoặc xin một chữ Phúc, chữ Thọ về treo nơi gian giữa. Người viết những nét chữ ấy là các ông đồ, ngồi bên vỉa hè với nghiên mực, bút lông và xấp giấy hồng điều. Khi thú chơi chữ nhạt dần trong đời sống thành thị, bóng dáng các ông đồ cũng thưa thớt theo. Vũ Đình Liên đã giữ lại khoảnh khắc chuyển mùa buồn bã ấy trong bài thơ Ông đồ, một thi phẩm năm chữ thấm đẫm lòng thương người và niềm nhớ tiếc những điều xưa cũ.
Mẫu 5 – từ nhận định của Hoài Thanh
Nhà phê bình Hoài Thanh, tác giả cuốn Thi nhân Việt Nam, nhận thấy thơ Vũ Đình Liên được nuôi dưỡng bởi hai nguồn cảm xúc: “lòng thương người và tình hoài cổ”. Nhận xét ấy hiện lên rõ nhất trong bài thơ Ông đồ. Vì thương người, nhà thơ dõi theo từng mùa Tết của một ông đồ già, từ lúc nét chữ còn được khen ngợi đến khi chẳng còn ai dừng chân. Vì hoài cổ, ông khép bài thơ bằng một câu hỏi không lời đáp về những con người và nếp sống của một thời đã xa. Tìm hiểu bài thơ, ta sẽ thấy hai nguồn cảm xúc ấy hòa vào nhau ra sao.
Mẫu 6 – so sánh với Vang bóng một thời của Nguyễn Tuân
Cuối những năm ba mươi, khi nhiều cây bút hướng về đời sống thành thị mới mẻ, vẫn có những người lặng lẽ ngoái nhìn những vẻ đẹp đang mất đi. Nguyễn Tuân với Vang bóng một thời đã dựng lại thú chơi chữ, thưởng trà của các nhà nho tài hoa. Trước đó vài năm, Vũ Đình Liên cũng gửi một nỗi niềm tương tự vào bài thơ Ông đồ, nhưng bằng giọng nhẹ nhàng hơn: không có nhân vật phi thường, chỉ có một ông già ngồi bán chữ bên phố rồi biến mất lúc nào chẳng ai hay. Chính sự bình dị ấy làm nên sức ám ảnh của bài thơ, khiến bạn đọc bao thế hệ còn day dứt về một thời đã qua.
Mẫu 7 – từ hình ảnh hoa đào
Hoa đào là tín hiệu của mùa xuân, của sum vầy và những khởi đầu mới. Thế nhưng trong bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên, sắc đào lại đi liền với một hình bóng già nua: “Mỗi năm hoa đào nở / Lại thấy ông đồ già”. Hai câu mở đầu nhẹ như lời kể, song chữ “lại” đã gợi một sự lặp lại quen thuộc qua bao mùa Tết. Cũng chính hình ảnh hoa đào ấy sẽ trở lại ở khổ cuối, khi người xưa không còn ngồi chỗ cũ, để bài thơ khép thành một vòng tròn buồn. Qua sự đối chiếu đó, nhà thơ bày tỏ nỗi thương cảm cho ông đồ và niềm tiếc nuối một nét xuân xưa đang phai nhạt.
Mẫu 8 – từ câu hỏi cuối bài thơ
Có những bài thơ để lại dư âm nhờ một câu hỏi không có lời đáp, và Ông đồ của Vũ Đình Liên là một trường hợp như thế. Khép lại bài thơ là lời tự vấn: “Những người muôn năm cũ / Hồn ở đâu bây giờ?”. Câu hỏi không dành riêng cho một ông đồ, mà hướng về cả một lớp nhà nho, cả một nếp sinh hoạt từng làm nên vẻ đẹp của những mùa xuân xưa. Muốn hiểu vì sao lời hỏi ấy còn vang vọng đến hôm nay, cần đi từ bức chân dung ông đồ trong hai thời đối lập mà nhà thơ đã dựng nên.
Mẫu 9 – từ quy luật của thời gian
Thời gian vốn lặng lẽ: nó không phá hủy điều gì một cách ồn ào, chỉ khiến những thứ quen thuộc mờ dần cho đến lúc người ta giật mình nhận ra chúng đã không còn. Vũ Đình Liên là người sớm nhận ra sự mất mát lặng lẽ ấy. Trong bài thơ Ông đồ, ông không viết về những biến cố lớn, chỉ ghi lại mấy mùa Tết của một ông cụ bán chữ bên đường, từ lúc đông người vây quanh đến ngày chỗ ngồi cũ trống trơn. Từ câu chuyện nhỏ ấy, bài thơ gợi nỗi xót xa trước sự đổi thay của thời cuộc và niềm thương tiếc những giá trị cũ bị bỏ quên.
Mở bài Ông đồ theo đề thường gặp
Mẫu 10 – cho đề phân tích hình ảnh ông đồ
Ông đồ từng là người thầy dạy chữ được cả làng kính trọng, mỗi độ Tết về lại là người trao cho mọi nhà những nét chữ mang lời chúc đầu năm. Trong bài thơ Ông đồ, Vũ Đình Liên khắc họa nhân vật ấy qua hai chặng đời. Thuở đắt khách, nét chữ phóng khoáng của ông được người đời ngợi khen: “Như phượng múa, rồng bay”. Đến khi thời thế đổi thay, ông vẫn ngồi chỗ cũ mà chẳng còn ai ghé lại. Hình ảnh ông đồ vì thế vượt khỏi chân dung một cá nhân để trở thành biểu tượng cho số phận của cả lớp nhà nho cuối mùa. Bài viết sau sẽ phân tích hình ảnh ấy.
Mẫu 11 – cho đề phân tích hai khổ thơ đầu
Bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên mở ra bằng một bức tranh ngày Tết ấm áp. Ở hai khổ đầu, ông đồ xuất hiện giữa phố phường đông vui, bên mực tàu, giấy đỏ, giữa vòng người vây quanh trầm trồ trước nét chữ tài hoa. Đó là quãng thời gian ông còn là tâm điểm của sự chú ý, là người đem đến cho mọi nhà những lời chúc đầu xuân bằng chữ Hán. Có điều, đoạn thơ càng rực rỡ bao nhiêu thì sự hiu hắt ở những khổ sau càng nổi bật bấy nhiêu. Đi sâu vào hai khổ mở đầu, ta sẽ thấy thời vàng son của ông đồ và hiểu thêm nỗi xót xa nhà thơ gửi gắm.
Mẫu 12 – cho đề phân tích khổ ba và khổ bốn
Nếu hai khổ đầu bài thơ Ông đồ là mùa xuân của nét chữ, thì khổ ba và khổ bốn là mùa thu của một kiếp người. Vũ Đình Liên không nói ông đồ buồn ra sao, chỉ để tờ giấy đỏ phai màu, nghiên mực đọng lại và chiếc lá vàng khẽ rơi xuống trang giấy không ai mua. Ông đồ vẫn ngồi đó, nhưng dòng người qua lại chẳng ai nhận ra ông. Bằng phép nhân hóa và lối mượn cảnh nói tình, hai khổ thơ đã diễn tả nỗi cô đơn tận cùng của một con người bị thời cuộc gạt ra bên lề. Đây là đoạn thơ giàu sức ám ảnh nhất của bài thơ, cần được phân tích kĩ.
Mẫu 13 – cho đề viết đoạn văn ghi lại cảm xúc về bài thơ
Lần đầu đọc bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên trong sách Ngữ văn 7, em chỉ thấy đó là câu chuyện nhỏ về một ông cụ bán chữ ngày Tết. Đọc lại vài lần, em mới nhận ra nỗi buồn lặng lẽ thấm qua từng câu thơ năm chữ, từ cảnh phố đông vui đến hình ảnh ông cụ ngồi một mình giữa mưa bụi. Bài thơ khiến em vừa thương ông đồ, vừa tiếc một nét đẹp của ngày Tết xưa mà em chỉ còn biết qua sách vở và những phiên chợ chữ. Dưới đây là những cảm xúc của em về bài thơ.
Mở bài Ông đồ nâng cao (học sinh giỏi)
Mẫu 14 – văn chương giữ lại những gì thời gian cuốn đi
Văn chương, theo một nghĩa nào đó, là nỗ lực níu giữ những gì sắp bị thời gian cuốn đi: một nét mặt, một phong tục, một cách sống. Bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên ra đời từ nỗ lực ấy. In năm 1936, giữa lúc Thơ mới đang say sưa với tình yêu và cái tôi cá nhân, bài thơ lại ngoảnh về một ông đồ già bị bỏ quên bên phố. Nhà thơ không lên tiếng phán xét ai, chỉ lặng lẽ kể và để những khoảng trống trong thơ tự cất lời. Từ một con người cụ thể, Vũ Đình Liên mở ra suy tư rộng lớn về những biến chuyển của xã hội và số phận của những giá trị văn hóa cũ. Đọc bài thơ, ta không chỉ thương một ông đồ, mà còn tự hỏi mình đã giữ được gì từ quá khứ.
Nên chọn mẫu mở bài Ông đồ nào?
Mỗi mẫu mở bài Ông đồ ở trên đều giới thiệu Vũ Đình Liên và bài thơ năm chữ về ông đồ già ngày Tết, nhưng dẫn vào vấn đề theo một lối riêng. Đề phân tích cả bài nên chọn mẫu trực tiếp đầy đủ hoặc một mẫu gián tiếp; đề hỏi hình ảnh nhân vật hay một khổ thơ thì dùng mẫu theo dạng đề; bài thi học sinh giỏi có thể dùng mẫu nâng cao. Khi viết, hãy diễn đạt lại bằng giọng văn của mình và giữ câu cuối thật gọn để chuyển sang thân bài.
Xem thêm: