Tóm tắt Ông đồ giúp em nắm nhanh nội dung bài thơ năm chữ nổi tiếng của Vũ Đình Liên, một trong những bài thơ mở đầu phong trào Thơ mới. Bài thơ học ở Bài 2 “Thơ bốn chữ, năm chữ” sách Ngữ văn 7 Cánh diều (tập 1).
Ông đồ là thơ trữ tình, nên tóm tắt bài thơ là tóm lược hình ảnh ông đồ qua từng thời điểm và cảm xúc của nhà thơ. Bài viết gồm 6 mẫu: ngắn nhất, một đoạn văn, theo bố cục ba phần, theo từng khổ thơ, theo hình ảnh đối lập xưa – nay và tóm tắt bằng lời kể. Để học kĩ các câu hỏi trong sách, em xem bài Soạn bài Ông đồ – Cánh diều.

Sơ đồ tư duy tóm tắt Ông đồ
Bài thơ gồm năm khổ, mỗi khổ bốn câu năm chữ, được đăng lần đầu năm 1936. Hình ảnh ông đồ được đặt trong ba thời điểm: những năm đông khách, những năm vắng khách và khi ông không còn xuất hiện nữa.

Tóm tắt Ông đồ ngắn nhất – mẫu 1
Mỗi dịp Tết, ông đồ già lại ngồi viết câu đối bên phố, được nhiều người thuê viết và khen chữ đẹp. Nhưng năm qua năm, người thuê viết thưa dần, ông ngồi lặng lẽ giữa phố đông mà không ai để ý. Rồi đến một năm, hoa đào vẫn nở mà ông đồ không còn nữa, để lại trong lòng nhà thơ niềm thương tiếc cho những con người và nét đẹp văn hóa đã lùi vào quá khứ.
Tóm tắt bài thơ Ông đồ bằng một đoạn văn – mẫu 2
Bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên mở ra bằng hình ảnh quen thuộc của những ngày giáp Tết xưa: hoa đào nở, ông đồ già bày mực, bày giấy đỏ bên hè phố đông người. Thuở ấy, ông được nhiều người tìm đến thuê viết chữ, ai cũng trầm trồ trước những nét chữ bay bướm như rồng múa. Nhưng thời thế đổi thay, mỗi năm người thuê viết lại vắng hơn. Giấy đỏ không ai dùng nên nhạt màu, mực đọng lại trong nghiên như cũng mang nỗi buồn. Ông vẫn kiên nhẫn ngồi đó, nhưng người qua đường chẳng ai còn để ý; chỉ có chiếc lá úa đậu xuống mặt giấy giữa làn mưa phùn. Đến khi hoa đào lại nở, ông đồ cũ đã không còn xuất hiện. Nhà thơ bâng khuâng tự hỏi về những con người của một thời đã xa, bày tỏ niềm hoài cổ và lòng thương cảm sâu sắc.
Tóm tắt Ông đồ theo bố cục ba phần – mẫu 3
Phần 1 (khổ 1 và 2) – Ông đồ thời đắc ý: mỗi năm hoa đào nở, ông đồ già lại xuất hiện, bày mực Tàu, giấy đỏ bên phố. Người đến thuê viết rất đông, ai cũng trầm trồ trước nét chữ tài hoa của ông. Ông là một phần không thể thiếu của mùa xuân.
Phần 2 (khổ 3 và 4) – Ông đồ thời tàn tạ: người thuê viết thưa dần rồi vắng hẳn. Giấy đỏ phai màu, mực đọng trong nghiên. Ông vẫn ngồi đó nhưng người qua đường không ai hay biết; khung cảnh lá rụng, mưa phùn khiến nỗi cô đơn của ông thêm thấm thía.
Phần 3 (khổ 5) – Ông đồ vắng bóng: hoa đào lại nở nhưng không còn thấy ông đồ. Nhà thơ day dứt, bâng khuâng nhớ thương những người muôn năm cũ.
Tóm tắt Ông đồ theo từng khổ thơ – mẫu 4
- Khổ 1: cứ mỗi độ xuân về, hoa đào nở, ông đồ già lại ngồi bên phố đông với mực Tàu, giấy đỏ.
- Khổ 2: khách tìm đến xin chữ, ngợi khen nét bút uyển chuyển, phóng khoáng của ông.
- Khổ 3: khách thuê viết thưa dần qua từng năm; đến tờ giấy đỏ, thỏi mực trong nghiên dường như cũng nhuốm buồn.
- Khổ 4: ông đồ vẫn kiên nhẫn ngồi chờ giữa dòng người hờ hững; cảnh lá rụng, mưa phùn càng tô đậm nỗi lạc lõng.
- Khổ 5: mùa xuân mới, hoa đào vẫn nở mà bóng ông đồ đã khuất; nhà thơ bâng khuâng: “Những người muôn năm cũ / Hồn ở đâu bây giờ?”
Tóm tắt Ông đồ theo hình ảnh đối lập xưa và nay – mẫu 5
Bài thơ được xây dựng trên sự đối lập giữa hai thời kì của ông đồ. Ngày trước, ông là trung tâm của phố xá ngày Tết: người thuê viết đông vui, lời khen dành cho nét chữ tài hoa, ông đồ được trọng vọng. Về sau, khi chữ Nho không còn được coi trọng, ông trở thành người thừa giữa phố đông: không ai thuê viết, không ai để ý, những vật dụng thân thuộc như giấy, mực cũng như mang tâm trạng buồn bã. Cùng một hình ảnh mở đầu và kết thúc là hoa đào nở, nhưng nếu ở đầu bài có ông đồ thì ở cuối bài, ông đã vắng bóng. Kết cấu đầu cuối tương ứng ấy làm nổi bật sự đổi thay của thời thế và nỗi tiếc thương của tác giả dành cho một lớp người, một nét đẹp văn hóa đang tàn phai.
Tóm tắt bài thơ Ông đồ bằng lời kể – mẫu 6
Ngày bé, mỗi khi Tết đến, tôi lại thấy ông đồ già ngồi bên góc phố, trước mặt là thỏi mực Tàu và xấp giấy đỏ. Người ta đến nhờ ông viết câu đối rất đông, ai cũng khen chữ ông như rồng bay phượng múa. Thế rồi năm này qua năm khác, khách đến thưa dần. Tờ giấy đỏ cứ nằm đó, nhạt màu, mực trong nghiên khô đọng lại. Ông vẫn ngồi chờ, nhưng dòng người qua lại chẳng ai dừng chân; chỉ có chiếc lá khô lặng lẽ rơi, ngoài kia mưa lất phất. Rồi một mùa xuân, hoa đào vẫn nở, nhưng góc phố quen không còn bóng ông đồ. Tôi chợt nghĩ đến những con người của ngày xưa, không biết giờ họ ở phương nào.
Kết luận
Khi tóm tắt bài thơ Ông đồ, em cần nêu được ba thời điểm của ông đồ (đông khách, vắng khách, vắng bóng) và cảm xúc hoài niệm, xót thương của nhà thơ. Vì bài thơ còn trong thời hạn bảo hộ, em nên diễn đạt bằng lời của mình và chỉ trích vài câu thơ tiêu biểu khi thật cần thiết.
Xem thêm: