Kanji là chữ Hán dùng trong tiếng Nhật, viết là 漢字, đọc theo âm Hán Việt là “Hán tự”. Đây là một trong ba bộ chữ của tiếng Nhật, đi cùng hiragana và katakana; mỗi chữ kanji vừa mang nghĩa vừa có một hoặc vài cách đọc. Hỏi “chữ kanji là gì” thì hiểu gọn: chữ vuông gốc Trung Hoa mà người Nhật mượn về và đọc theo cách riêng.
| Nghĩa ngắn | Chữ Hán trong hệ thống chữ viết tiếng Nhật |
| Gốc từ | Tiếng Nhật 漢字 (kanji) = Hán tự, “chữ của người Hán” |
| Loại từ | Danh từ, từ mượn tiếng Nhật |
| Cách đọc | On’yomi (âm gốc Hán) và kun’yomi (âm thuần Nhật) |
| Chữ thông dụng | Danh sách jōyō kanji gồm 2.136 chữ (bản sửa năm 2010) |

Kanji nghĩa đen là gì?
Tách đôi tên gọi ra là thấy ngay. 漢 là Hán, tên triều đại và cũng là tên gọi người Trung Hoa; 字 là tự, tức chữ. Người Việt nói “chữ Hán”, người Nhật nói kanji, người Hàn nói hanja: ba cách đọc khác nhau của cùng hai chữ 漢字. Người Trung Quốc đọc là hànzì.
Tuy vậy, khi người Việt dùng chữ “kanji”, ta gần như luôn nói về chữ Hán trong tiếng Nhật, gắn với chuyện học tiếng Nhật, thi JLPT, đọc manga. Không ai gọi câu đối chữ Hán treo ở đình làng là kanji.
Mỗi kanji là một chữ biểu ý: nó mang một nghĩa, không chỉ là một âm. Chữ 山 là núi, 水 là nước, 人 là người. Nhìn chữ có thể đoán nghĩa trước khi biết cách đọc, và đó là điểm khác hẳn so với bảng chữ cái Latinh.
Kanji, hiragana và katakana chia việc ra sao?
Một câu tiếng Nhật bình thường thường dùng cả ba bộ chữ cùng lúc. Mỗi bộ có phần việc riêng:
| Bộ chữ | Hình dạng | Thường dùng để viết |
|---|---|---|
| Kanji | Chữ vuông nhiều nét, mỗi chữ một nghĩa | Danh từ, gốc động từ, gốc tính từ |
| Hiragana | Nét mềm, tròn; mỗi chữ một âm tiết | Trợ từ, đuôi động từ (okurigana), từ không có kanji thông dụng |
| Katakana | Nét thẳng, góc cạnh; mỗi chữ một âm tiết | Từ mượn tiếng nước ngoài, tên riêng ngoại quốc, từ tượng thanh |
Ví dụ câu 私は学生です (“Tôi là học sinh”): 私 và 学生 là kanji, は và です là hiragana. Còn chữ “cà phê” thì viết bằng katakana: コーヒー. Hai bộ kana đều sinh ra từ chữ Hán: hiragana từ lối viết thảo, katakana từ một phần nét của chữ. Nói cách khác, cả ba bộ chữ Nhật đều có chung một tổ tiên.
Với người mới học, những chữ kana nhỏ in phía trên hoặc bên cạnh kanji để chỉ cách đọc gọi là furigana. Sách thiếu nhi và truyện tranh dùng furigana rất nhiều.
Chữ Hán sang Nhật từ bao giờ?
Chữ Hán theo đồ vật, thư từ và kinh sách từ lục địa vào Nhật Bản; tới khoảng thế kỷ V, việc dùng chữ Hán ở Nhật mới trở nên đáng kể. Lúc đầu tiếng Nhật chưa có chữ viết riêng, người Nhật vừa đọc văn bản chữ Hán, vừa mượn chữ Hán để ghi âm tiếng nói của mình. Từ lối mượn âm ấy, về sau mới tách ra hai bộ kana.
Qua nhiều thế kỷ, mỗi kanji tích lại hai lớp cách đọc. On’yomi là âm mô phỏng cách đọc tiếng Hán lúc chữ được du nhập; kun’yomi là từ thuần Nhật có cùng nghĩa, được “gắn” vào chữ. Chữ 山 đọc on là san (như trong 富士山, Fujisan), đọc kun là yama. Chữ 月 đọc on là getsu, đọc kun là tsuki; người Việt đọc là nguyệt.
Người Nhật cũng tự tạo thêm chữ theo lối Hán, gọi là kokuji (quốc tự). Ví dụ 峠 (đỉnh đèo), 畑 (ruộng khô), 働 (làm việc). Những chữ này không có trong chữ Hán gốc của Trung Quốc, giống như cách cha ông ta tạo chữ Nôm.
Dùng chữ kanji trong câu thế nào?
Từ “kanji” xuất hiện nhiều nhất trong chuyện học và đọc tiếng Nhật:
- Lịch học: “Tối nay ôn 20 chữ kanji bài 5, mai kiểm tra viết.”
- Nhắn tin hỏi bạn: “Chữ kanji này đọc là gì vậy, tra mãi không ra bộ.”
- Đọc truyện: “Bản manga này có furigana trên kanji nên dễ đọc.”
- Kinh nghiệm thi: “Phần kanji N3 khó vì nhiều chữ có ba bốn cách đọc.”
- Quà lưu niệm: “Áo in một chữ kanji 夢, nghĩa là mộng, ước mơ.”
Một lỗi hay gặp là in kanji lên áo hay xăm hình mà không tra nghĩa. Chữ đẹp mắt chưa chắc nghĩa đẹp: luôn tra từ điển trước khi chọn một chữ để mang theo người.
Kanji với chữ Hán Việt và chữ Nôm
Người Việt học kanji có lợi thế lớn: rất nhiều từ ghép kanji đọc theo on’yomi gần với âm Hán Việt. 学生 là gakusei, Hán Việt là học sinh; 大学 là daigaku, tức đại học; 注意 là chūi, tức chú ý. Biết nghĩa một từ Hán Việt là đoán được nghĩa của chữ kanji tương ứng. Bài lớp từ Hán Việt trong tiếng ta giúp nhận ra mối liên hệ này rõ hơn.
Chuyện người Nhật tạo kokuji cũng có bản sao ở Việt Nam. Cha ông ta mượn bộ phận chữ Hán để ghi tiếng Việt, thành hệ chữ Nôm của người Việt. Khác ở chỗ: tiếng Nhật đến nay vẫn dùng kanji hằng ngày, còn tiếng Việt đã chuyển sang chữ Quốc ngữ.
Còn nếu bạn bắt đầu học tiếng Nhật vì mê truyện tranh, chữ đầu tiên đáng nhớ có khi chính là 漫画 trong tên gọi manga 漫画: Hán Việt đọc là mạn họa.
Kanji với người mới học tiếng Nhật
Chữ kanji là chữ gì, có phải chữ Trung Quốc không?
Kanji có nguồn gốc là chữ Hán của Trung Quốc, nhưng đã thành một phần của chữ viết tiếng Nhật. Nhiều chữ giữ nét viết giống chữ Phồn thể, một số được người Nhật giản hóa theo cách riêng, khác chữ Giản thể của Trung Quốc, và có cả chữ do Nhật tự tạo.
Kanji tiếng Nhật có bao nhiêu chữ?
Tổng số chữ Hán là hàng chục nghìn, nhưng người Nhật đọc báo, sách thông thường chủ yếu dựa vào danh sách jōyō kanji gồm 2.136 chữ, bản sửa năm 2010. Học sinh tiểu học Nhật học khoảng một nghìn chữ đầu tiên.
Một chữ kanji có mấy cách đọc?
Thường có ít nhất một âm on và một âm kun; nhiều chữ có vài âm mỗi loại. Đọc theo âm nào phụ thuộc vào từ ghép và ngữ cảnh: đứng một mình hay đi với hiragana thường đọc kun, nằm trong từ ghép hai chữ kanji thường đọc on.
Học kanji có cần biết chữ Hán Việt không?
Không bắt buộc, nhưng rất có ích. Nhớ âm Hán Việt của chữ giúp đoán nghĩa từ ghép nhanh hơn, và nhiều người Việt học kanji bằng cách ghi kèm âm Hán Việt cạnh mỗi chữ.