Huyễn hoặc là làm cho người ta mất tỉnh táo, nhìn sai và tin vào những điều không có thật, thường bằng lời lẽ hay hình ảnh có vẻ huyền bí, hấp dẫn. Đây là một động từ Hán Việt, hay gặp nhất trong cụm tự huyễn hoặc mình: tự dỗ bản thân tin vào điều mình muốn tin. Không ít người viết thành “huyền hoặc”; hai từ gần nhau nhưng không trùng khít.
| Nghĩa ngắn | Làm cho mê muội, lầm lẫn, tin vào điều không có thật |
| Gốc từ | Hán Việt: huyễn 幻 (ảo, không thật) + hoặc 惑 (mê, lầm) |
| Loại từ | Động từ; thường đi với “bị”, “tự”, “dùng… để” |
| Sắc thái | Chê trách, cảnh giác; hay gặp trên báo và trong văn nghị luận |

Huyễn hoặc: mắt vẫn mở mà lòng lầm
Mục từ huyễn hoặc trong từ điển của Viện Ngôn ngữ học được giảng là làm cho mất sáng suốt, lầm lẫn, tin vào những điều không có thật hoặc mang màu mê tín. Wiktionary tiếng Việt ghi thêm một nét gần như vậy: lừa gạt người khác bằng mánh khóe. Gộp lại, từ này luôn có hai phía: một bên bày ra cái ảo, một bên tin cái ảo ấy là thật.
Điều thú vị là người bị huyễn hoặc không hề nhắm mắt. Họ vẫn nhìn, vẫn nghe, thậm chí nghe rất chăm. Cái sai nằm ở chỗ họ đặt niềm tin vào thứ được tô vẽ quá đẹp. Vì vậy từ này hợp với những chuyện như:
- Một nhóm người dùng chuyện “thầy cao tay”, “nước thánh chữa bách bệnh” để huyễn hoặc người già ở quê.
- Quảng cáo hứa học ba tuần nói tiếng Anh như người bản xứ, nghe xong ai cũng muốn đóng tiền, tức là đã bị huyễn hoặc phần nào.
- Cậu bạn thi trượt vẫn nói với cả nhà rằng đề năm nay “ra sai chương trình”, đó là đang tự huyễn hoặc mình.
Ở ví dụ cuối, người làm ra cái ảo và người tin nó là một. Đây là cách dùng phổ biến nhất trong lời nói hằng ngày, và cũng là cách dùng khiến từ này hay xuất hiện trong các bài văn nghị luận về lối sống.
幻 và 惑: cái ảo đi cùng cái mê
Chữ huyễn 幻 mà ta quen đọc là ảo: thứ giả mà trông như thật. Họ hàng của nó ai cũng biết, chỉ là đã đổi cách đọc: ảo thuật (xưa gọi huyễn thuật), ảo ảnh, ảo mộng, biến ảo. Thiều Chửu còn ghi một nghĩa động từ của chữ này là dối giả, làm giả để mê hoặc người, kèm ví dụ 幻惑良民, tức đem cái giả ra lừa dân lành.
Chữ hoặc 惑 là ngờ, mê, lầm. Nó có mặt trong nghi hoặc, mê hoặc, mê hoặc lòng người, và trong câu nổi tiếng của sách Luận ngữ: tuổi bốn mươi thì “bất hoặc”, không còn bị điều gì làm cho mê lầm nữa.
Đặt hai chữ cạnh nhau, huyễn hoặc là dùng cái ảo để gây ra cái mê. Một số từ điển Hán Nôm còn ghi cách viết 眩惑, với chữ 眩 nghĩa là hoa mắt. Dù chọn cách viết nào, hình ảnh vẫn là đôi mắt bị lóa đi trước một thứ không có thật. Nếu muốn ôn lại cách nhận diện lớp từ này, có bài cách nhận ra một từ gốc Hán trong tiếng Việt.
Huyễn hoặc, huyền hoặc và mê hoặc khác nhau ở đâu?
| Từ | Hay dùng như | Nét riêng | Ví dụ |
|---|---|---|---|
| Huyễn hoặc | Động từ | Làm cho tin điều không thật; ý chê | Đừng để mấy lời hứa làm giàu nhanh huyễn hoặc |
| Huyền hoặc | Tính từ (nghĩa động từ ít dùng) | Không có thật và mang vẻ huyền bí | Một truyền thuyết huyền hoặc về hồ nước giữa rừng |
| Mê hoặc | Động từ | Cuốn hút đến mức mất tự chủ; có thể khen | Giọng hát ấy mê hoặc cả khán phòng |
| Ảo tưởng | Danh từ, động từ | Tưởng điều không có thật, nhất là về bản thân | Ảo tưởng mình không cần ôn vẫn đỗ |
Chỗ dễ lẫn nhất là cặp huyễn hoặc và huyền hoặc. Từ điển có ghi hai từ đồng nghĩa ở nghĩa động từ, nhưng khi dùng thật thì chúng tách ra khá rõ: “câu chuyện huyền hoặc” là câu chuyện kì bí, khó tin; “câu chuyện huyễn hoặc” là câu chuyện bịa ra để lừa người nghe. Một cái thiên về màu sắc, một cái thiên về ý đồ.
Gần nghĩa với huyễn hoặc còn có lừa phỉnh, phỉnh phờ, bịp bợm, nhưng những từ này thô và trực diện hơn. Trái nghĩa là các từ chỉ việc gỡ bỏ cái ảo: thức tỉnh, vạch trần, tỉnh ngộ; ở phía người tiếp nhận thì là tỉnh táo, sáng suốt.
Tự huyễn hoặc mình có đáng trách không?
Không phải niềm tin lạc quan nào cũng là tự huyễn hoặc. Người hi vọng vẫn nhìn thẳng vào thực tế rồi mới tin là mình vẫn đổi được kết quả. Người tự huyễn hoặc thì đi đường vòng: thấy sự thật khó chịu, họ né nó và dựng lên một câu chuyện dễ nghe hơn. Ranh giới này chính là chỗ giúp bài nghị luận có chiều sâu.
- Tự huyễn hoặc che mất lỗi cần sửa. Ai cũng đổ cho “xui”, cho “đề khó” thì lần sau vẫn vấp đúng chỗ cũ.
- Nó khác với tự động viên. Câu “mình sẽ cố hơn” hướng tới việc làm; câu “mình chẳng sai gì cả” chỉ để thấy dễ chịu.
- Nó dễ biến thành ảo tưởng kéo dài. Kiểu tin chắc vào kịch bản trong đầu mà dân mạng gọi là tự tin hão huyền theo kiểu delulu là một ví dụ gần gũi.
Những ai muốn phân biệt thêm giữa việc tự nhắc mình điều tốt và việc tự lừa mình có thể xem bài về chuyện tự ám thị bản thân. Còn để nhớ từ này, chỉ cần một câu: người bị lừa còn có thể được người khác đánh thức, người tự huyễn hoặc thì phải tự mở mắt.
Huyễn hoặc trong câu nói và trên trang báo
“Đừng tự huyễn hoặc mình nữa” nghĩa là gì?
Là lời khuyên đừng tự dỗ dành bằng một lời giải thích dễ nghe mà sai sự thật. Người nói muốn người nghe nhìn thẳng vào điều đang xảy ra, chẳng hạn một mối quan hệ đã kết thúc hay một kết quả học tập chưa tốt.
Huyễn hoặc hay huyền hoặc mới đúng?
Cả hai đều có trong từ điển. Muốn nói việc làm người khác tin điều không thật thì dùng huyễn hoặc; muốn tả một câu chuyện, một vùng đất mang vẻ kì bí thì dùng huyền hoặc.
Huyễn hoặc tiếng Anh là gì?
Thường dịch là delude hoặc deceive. “Tự huyễn hoặc mình” là delude oneself, danh từ tương ứng là self-deception.
Huyễn hoặc có phải từ mang nghĩa xấu không?
Có. Từ này gần như luôn dùng để chê hoặc cảnh báo. Khi muốn khen sức cuốn hút của một thứ gì đó, tiếng Việt chọn “mê hoặc” hay “quyến rũ” chứ không dùng huyễn hoặc.