Các truyền thuyết về Vua Hùng mang đậm giá trị văn hóa và lịch sử của dân tộc Việt Nam. Những câu chuyện này không chỉ phản ánh tâm hồn người Việt mà còn gợi mở nhiều bài học quý giá. Hãy cùng khám phá những điều thú vị từ các truyền thuyết này.
Truyền thuyết “Vua Hùng trồng kê ra lúa”
Một hôm các con gái vua Hùng theo dân đi đánh cá ven sông thấy từng đàn chim bay lượn khắp bãi, nhảy nhót trong đám lau cỏ, khiến các nàng rất vui thích. Có một nàng công chúa, mải ngắm đàn chim, dừng tay quăng lưới, chợt có con chim thả một bông kê rơi trên mái tóc. Công chúa mang bông kê về trình với Vua, Vua mừng, cho là điềm tốt lành, hạt này chim ăn được chắc người cũng ăn được liền bảo các Mỵ nương ra bãi tuốt các bông đó đem về.
Tới mùa xuân, Vua đem các hạt kê ra và phái các công chúa gọi dân đi quải. Nhân dân vui mừng rước Vua ra đồng. Trống mõ đi đầu rồi tới người rước lúa, rước kê. Tới bên sông, Vua xuống bãi lấy que nhọn chọc đất tra lúa và gieo kê trên bãi. Làm xong, Vua cắm một cành tre để chim sợ khỏi ăn hạt. Các Mỵ nương và dân đều làm theo.
Truyền thuyết “Vua Hùng dạy dân cấy lúa”
Thuở xưa, nhân dân chưa biết cày cấy làm ra thóc gạo mà ăn, chỉ sống bằng thịt thú rừng, rễ cây, quả cây và các loại rau dại, lúa hoang nhặt được. Các vùng đất ven sông hàng năm được phù sa bồi thêm màu mỡ. Vua Hùng thấy đất ấy tốt mới gọi dân đến bảo tìm cách đắp bờ giữ nước. Vua thấy lúa mọc hoang nhiều mới bày cách cho dân gỡ hạt, gieo mạ. Khi mạ lên xanh thì đem cấy vào các tràn ruộng có nước.

Lúc đầu dân không biết cấy, tìm hỏi Vua. Vua Hùng nhổ cây mạ lên, đem tới ruộng nước, lội xuống cấy cho dân xem. Mọi người làm theo, cấy tới khi mặt trời đứng bóng, Vua cùng mọi người lên gốc đa lớn nghỉ ngơi ăn uống.
Truyền thuyết “hát Xoan”
Ngày ấy vợ Vua Hùng mang thai đã lâu, tới ngày sinh nở, đau bụng mãi mà không sinh được. Có một người hầu gái tâu rằng: Có một người con gái đẹp tên là Quế Hoa, múa giỏi hát hay, ở trong một làng tre xanh gần thành Phong Châu.
Nếu đón nàng về múa hát có thể làm cho đỡ đau và sinh nở được. Vợ vua nghe lời, Quế Hoa vâng theo lời triệu đến chầu vợ Vua. Bấy giờ bà đang lên cơn đau dữ dội. Quế Hoa đứng bên giường múa hát.
Nàng đẹp lắm: môi đỏ, mắt đen, tóc dài, da trắng, giọng hát trong vắt khi trầm, khi bổng như chim ca, suối chảy, tay uốn chân đưa, người mềm như tơ, chân dẻo như bún, ai cũng phải mê. Vợ Vua Hùng mải xem múa hát, không thấy đau nữa liền sinh được ba người con trai khôi ngô, tuấn tú. Vua hết sức vui mừng và khen ngợi Quế Hoa, liền truyền cho các Mỵ nương học lấy các điệu múa hát ấy.
Vì lúc này nàng Quế Hoa hát chầu Vợ Vua là vào mùa xuân nên các Mỵ nương gọi hát ấy là hát Xuân (hay hát Xoan). Sự tích hát Xoan còn được ghi lại trong chuyện kể nối đời của dân làng Cao Mại – Việt Trì với một vài chi tiết khác.
Tuy nhiên, thông qua những truyền thuyết này, chúng ta cũng có thể hình dung được phần nào sinh hoạt múa hát đầu xuân của tổ tiên ta. Những “Sinh hoạt văn hoá cơ sở” ấy qua thời gian và sáng tạo, nhận thức thẩm mỹ của con người đã được trau chuốt thêm, làm giàu thêm để ngày hôm nay có được một làn điệu dân ca mà cả nước biết đến.
Truyền thuyết “Bách nghệ khôi hài”
“Bách nghệ khôi hài”, một trò vui đầu xuân có gốc từ thời Hùng Vương. Chuyện kể rằng: Mỵ nương Ngọc Hoa sau khi lấy Sơn Tinh, ở núi Tản được ít lâu thì về với bố mẹ ở thành Phong Châu. Ba năm sau vẫn chưa trở lại với chồng, Tản Viên phải về thành Phong Châu xin vua cha cho đón nàng về.
Ngọc Hoa ra khỏi cung điện, tới làng Trẹo thì nhất định không chịu đi nữa, Tản Viên dỗ thế nào cũng không nghe, chỉ cúi đầu, nước mắt chảy ướt má. Ngọc Hoa nhớ bố, nhớ mẹ, nhớ nơi nàng đã sống không nỡ rời. Tản Viên không biết làm thế nào, mới vào trong thôn tìm người giúp.
Dân làng mừng rỡ ra đón Ngọc Hoa, bấy giờ mọi người bày ra các trò vui, để Ngọc Hoa nguôi lòng thương nhớ. Người thì múa nhảy, người kể chuyện cười.
Các cô gái hát với trai làng. Công chúa vui vẻ cười và hát theo, mọi người rước Ngọc Hoa lên kiệu. Đám rước có người già làm kẻ đánh cá, đi săn, lại mang những dụng cụ nhà nông đã hư hỏng, vừa đi vừa nói những câu bông lơn cho công chúa cười. Ngọc Hoa trong lòng vui vẻ cùng với Tản Viên trở về quê chồng…
Ý nghĩa các truyền thuyết về Vua Hùng
Vua Hùng như một người thầy dạy nghề nông
Hai truyện đầu không kể chuyện đánh giặc hay phép thần, mà kể Vua Hùng lội ruộng, lấy que chọc lỗ tra hạt, nhổ mạ cấy mẫu cho dân xem rồi cùng nghỉ dưới gốc đa. Hình ảnh ông vua làm ruộng cùng dân phản ánh ký ức của cư dân nông nghiệp lúa nước: tổ tiên được nhớ đến trước hết là người mở ra nghề trồng lúa, nuôi sống cộng đồng.
Múa hát gắn với sự sống
Sự tích hát Xoan đặt lời ca tiếng múa vào cảnh sinh nở: nghe Quế Hoa hát, bà vợ vua quên đau và sinh được ba người con trai. Lời ca ở đây không chỉ để vui mà còn giúp con người vượt qua đau đớn. Còn trò Bách nghệ khôi hài cho thấy tiếng cười được dùng để làm nguôi nỗi nhớ nhà của nàng Ngọc Hoa, một cách lý giải dí dỏm cho tục diễn trò, đóng vai các nghề ngày xuân.
Cầu nối giữa truyện kể và lễ hội
Mỗi truyền thuyết ở đây đều gắn với một sinh hoạt có thật: mùa gieo cấy, làn điệu dân ca, trò diễn đầu xuân. Nhờ thế, câu chuyện được kể lại qua từng mùa lễ hội và sống lâu trong ký ức làng xã. Hiểu các truyện này, người đọc sẽ thấy vì sao người Việt coi Vua Hùng là Quốc Tổ và giữ ngày giỗ Tổ mùng 10 tháng 3 âm lịch.
Nguồn gốc các truyền thuyết về Vua Hùng
Đây là những truyền thuyết dân gian lưu truyền chủ yếu ở vùng đất Tổ Phú Thọ, nơi đặt kinh đô Văn Lang (Phong Châu) theo truyền thuyết. Hát Xoan Phú Thọ đã được UNESCO ghi danh là di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp năm 2011, rồi chuyển sang danh sách di sản đại diện của nhân loại năm 2017; Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương ở Phú Thọ được UNESCO ghi danh năm 2012. Bài trên trang tự nhắc rằng sự tích hát Xoan còn có dị bản trong lời kể của dân làng Cao Mại (Việt Trì).
Câu hỏi thường gặp
Hát Xoan có nguồn gốc từ truyền thuyết nào?
Theo truyền thuyết, nàng Quế Hoa múa hát giúp vợ Vua Hùng vượt cạn vào mùa xuân, nên điệu hát được gọi là hát Xuân, đọc chệch thành hát Xoan.
Ngoài các truyện này, còn truyền thuyết thời Hùng Vương nào nổi tiếng?
Nổi tiếng nhất là Con Rồng cháu Tiên, Sự tích bánh chưng bánh dày, Sơn Tinh, Thủy Tinh và Thánh Gióng. Học sinh lớp 6 có thể xem thêm soạn bài Sơn Tinh, Thủy Tinh.