Hình vị là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ có mang nghĩa hoặc có giá trị ngữ pháp, dùng để cấu tạo nên từ. Trong tiếng Việt, hình vị thường trùng với một tiếng: nhà, xe, thủy, đạp đều là hình vị. Tìm “hình vị tiếng Việt là gì” thì cần nhớ thêm điều này: tiếng Anh tách hình vị trong lòng một từ, còn tiếng Việt thường tách theo từng âm tiết.
| Khái niệm | Đơn vị nhỏ nhất có nghĩa (hoặc có chức năng ngữ pháp) của ngôn ngữ |
| Nghĩa thuật ngữ | Tương ứng với morpheme trong tiếng Anh; có sách gọi là ngữ tố, từ tố |
| Thuộc | Ngành hình thái học (từ pháp học), phần cấu tạo từ |
| Dấu hiệu nhận biết | Tách nhỏ hơn nữa thì mất nghĩa; trong tiếng Việt thường là một tiếng |
| Gặp ở | Bài từ đơn, từ phức (Ngữ văn 6), giáo trình Dẫn luận ngôn ngữ học |

Hình vị nhỏ đến mức nào?
Thử cắt chữ học sinh ra. Cắt thành học và sinh thì mỗi phần vẫn còn chút nghĩa: học là thu nhận kiến thức, sinh (gốc Hán) chỉ người theo học. Cắt tiếp học thành h, ọc thì chỉ còn lại âm thanh, nghĩa biến mất. Điểm dừng ngay trước khi nghĩa biến mất chính là hình vị.
Các giáo trình cơ sở ngôn ngữ học định nghĩa theo hai vế: mẩu nhỏ nhất mang nghĩa, hoặc mẩu nhỏ nhất làm một việc ngữ pháp. Vế sau cần có vì nhiều ngôn ngữ có những mẩu rất nhỏ không gọi tên sự vật nào, nhưng lại báo thì, báo số. Trong played của tiếng Anh, play chỉ hành động chơi, còn -ed chỉ báo rằng việc ấy đã xảy ra. Cả hai đều là hình vị.
Tiếng Việt thuộc loại hình đơn lập, từ không đổi dạng theo câu, nên chuyện đơn giản hơn: mỗi tiếng (âm tiết) gần như là một hình vị. Vì vậy một số nhà Việt ngữ học còn gọi tiếng là hình tiết, tức âm tiết có giá trị như hình vị. Bài cấu trúc âm tiết trong tiếng Việt giải thích vì sao âm tiết của ta lại tách bạch, dễ nhận ra đến thế.
Đặt hình vị cạnh tiếng, từ và âm vị
Bốn khái niệm này hay bị trộn vào nhau trong bài kiểm tra. Bảng dưới đây đặt chúng theo cùng một câu hỏi: đơn vị ấy có nghĩa không, có tự đứng được không.
| Đơn vị | Có mang nghĩa? | Dùng độc lập trong câu? | Ví dụ |
|---|---|---|---|
| Âm vị | Không, chỉ giúp phân biệt nghĩa | Không | /b/ và /m/ làm ba khác ma |
| Hình vị | Có (hoặc có chức năng ngữ pháp) | Có hình vị dùng được, có hình vị không | nhà, thủy, -ed |
| Tiếng | Phần lớn có, một số đã mờ nghĩa | Tùy tiếng | xanh, lè trong xanh lè |
| Từ | Có | Có, dùng để đặt câu | nhà, xe đạp, sạch sẽ |
Mấu chốt nằm ở cột thứ ba. Thủy có nghĩa là nước, nhưng không ai nói “tôi uống thủy”. Nó phải đi cùng hình vị khác để thành từ: thủy triều, thủy thủ. Phần phân biệt tiếng với từ ở lớp 6 nói kĩ hơn về ranh giới này.
Các kiểu hình vị thường gặp
Cách chia phổ biến nhất dựa vào khả năng đứng độc lập.
- Hình vị tự do tự nó làm được một từ: người, làng, đẹp, đi, nói.
- Hình vị ràng buộc chỉ xuất hiện khi bám vào hình vị khác. Tiếng Anh có -ing, -s, -ness, un-. Tiếng Việt có nhóm Hán Việt như sơn, hỏa, trường, đoản: có nghĩa nhưng thường không đứng riêng.
Nếu xét vị trí trong từ, ngôn ngữ biến hình còn chia ra gốc từ (mang nghĩa từ vựng) và phụ tố (tiền tố đứng trước, hậu tố đứng sau, trung tố chen giữa). Từ unhappiness có ba hình vị: un- (không), happy (vui), -ness (biến tính từ thành danh từ). Tiếng Việt hầu như không tạo từ theo lối thêm phụ tố như vậy, mà chủ yếu ghép và láy các tiếng với nhau.
Bốn dấu hiệu để nhận ra hình vị
- Thử cắt nhỏ hơn. Phần nào cắt nữa là mất nghĩa thì đã chạm đến hình vị. Bàn không cắt được; bàn ghế cắt được thành hai.
- Tìm nó trong từ khác. Một hình vị thật thường lặp lại với cùng nét nghĩa: thủy trong thủy điện, thủy sản, hải thủy đều dính tới nước.
- Đừng đòi hỏi nó phải đứng một mình. Sinh trong học sinh không đứng riêng với nghĩa “người học”, nhưng vẫn là hình vị.
- Cẩn thận với từ mượn nhiều âm tiết. Cà phê, ra-đi-ô có nhiều tiếng nhưng tách ra thì không tiếng nào có nghĩa. Nhiều tác giả xem cả từ là một hình vị; cũng có người vẫn coi mỗi tiếng là một đơn vị. Đây là chỗ giới nghiên cứu chưa thống nhất.
Soi hình vị trong câu thơ và câu ca dao
Lấy hai dòng tả cảnh xuân quen thuộc trong Truyện Kiều:
Cỏ non xanh tận chân trời,
Cành lê trắng điểm một vài bông hoa.
Mười bốn tiếng ở đây là mười bốn hình vị. Có điều hình vị nào làm từ một mình, hình vị nào ghép đôi thì khác nhau. Cỏ, non, xanh, tận mỗi tiếng là một từ. Chân trời thì hai hình vị đã gắn chặt thành một từ ghép, nghĩa là đường giới hạn của tầm mắt chứ không còn là “cái chân” của trời. Chỉ khi biết chân và trời vốn là hai hình vị riêng, ta mới thấy cái hay của hình ảnh: màu xanh của cỏ trải đến tận chỗ trời chạm đất. Đoạn này được phân tích kĩ trong bài soạn trích đoạn tả cảnh xuân của Nguyễn Du.
Sang câu ca dao về nhà nông (theo bản chép phổ biến; có nơi chép “chồng bừa vợ cấy”):
Trên đồng cạn, dưới đồng sâu,
Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa.
Gần như tiếng nào ở đây cũng là hình vị tự do, tự làm được một từ: chồng, cày, vợ, cấy, trâu, bừa. Câu thơ vì thế chắc và gọn. Muốn ôn lại cách chia từ đơn một tiếng với từ phức nhiều tiếng, có thể xem phần tiếng Việt sau truyện Dế Mèn ở lớp 6.
Ví dụ cuối cho thấy hình vị có thể bị mờ nghĩa. Trong xanh lè, đỏ lòm, các tiếng lè, lòm không gọi tên gì, nhưng bỏ đi thì sắc thái “chói, gắt” của màu cũng mất. Các nhà nghiên cứu vẫn tính chúng là hình vị vì chúng làm thay đổi nghĩa của cả từ.
Luyện nhận diện hình vị qua năm câu
Câu 1: Từ “học sinh” có mấy hình vị? Mỗi hình vị mang nghĩa gì?
Đáp án: Hai hình vị. Học chỉ việc tiếp thu kiến thức; sinh (yếu tố Hán Việt) chỉ người đi học. Cả hai ghép lại thành một từ ghép.
Câu 2: Trong các yếu tố sau, yếu tố nào là hình vị tự do, yếu tố nào là hình vị ràng buộc: nhà, sơn, ăn, hỏa, mèo, gia?
Đáp án: Tự do: nhà, ăn, mèo (tự làm được từ). Ràng buộc: sơn (núi), hỏa (lửa), gia (nhà). Ba yếu tố Hán Việt này có nghĩa nhưng thường phải đi cùng yếu tố khác, như giang sơn, hỏa hoạn, gia đình.
Câu 3: Từ tiếng Anh “teachers” gồm những hình vị nào?
Đáp án: Ba hình vị: teach (dạy, gốc từ), -er (hậu tố chỉ người làm việc đó), -s (hậu tố số nhiều). Chỉ teach là hình vị tự do.
Câu 4: Lấy ví dụ tiếng Việt để chứng minh “hình vị” và “từ” không phải lúc nào cũng trùng nhau.
Đáp án: Vì một từ có thể gồm một hay nhiều hình vị. Mưa là từ gồm một hình vị; mưa rào là một từ gồm hai hình vị. Ngược lại, có hình vị không bao giờ đứng làm từ, như thủy trong thủy thủ.
Câu 5: Trong “đỏ lòm”, tiếng “lòm” có được tính là hình vị không?
Đáp án tham khảo: Có thể xem là hình vị. Đứng riêng, lòm không gọi tên sự vật nào, nhưng nó góp sắc thái “đỏ đậm, trông khó chịu” cho cả từ; thay bằng đỏ thắm hay đỏ tươi thì nghĩa đổi hẳn.
Hình vị dưới góc nhìn người học tiếng Việt
Hình vị là gì, cho ví dụ dễ hiểu nhất?
Hình vị là mẩu ngôn ngữ nhỏ nhất còn mang nghĩa. Ví dụ dễ nhất: xe đạp có hai hình vị xe và đạp; xe thì chỉ có một, vì cắt nhỏ hơn chỉ còn âm.
Hình vị và từ khác nhau thế nào?
Từ là đơn vị để đặt câu, luôn đứng độc lập được. Hình vị là vật liệu làm ra từ; có cái đứng riêng được, có cái phải dựa vào cái khác.
Morpheme là gì, có giống hình vị không?
Morpheme là thuật ngữ tiếng Anh, dịch sang tiếng Việt chính là hình vị. Điểm khác chỉ nằm ở cách nó hiện ra: tiếng Anh có nhiều hình vị nằm gọn trong lòng một âm tiết như -s, -ed, còn tiếng Việt thường mỗi hình vị là một tiếng.
Học sinh lớp 6 có cần học từ “hình vị” không?
Sách Ngữ văn phổ thông dùng chữ tiếng thay cho hình vị, nên học sinh không bắt buộc phải nhớ thuật ngữ này. Nó xuất hiện nhiều hơn ở đại học, trong môn Dẫn luận ngôn ngữ học, nhưng hiểu nó sẽ giúp phân biệt các cách tạo ra từ trong tiếng Việt chắc chắn hơn.