Goá là tính từ chỉ người có vợ hoặc chồng đã mất mà chưa tái hôn: vợ mất chồng thì gọi là goá chồng, người đàn ông mất vợ thì gọi là goá vợ. Từ đây có goá bụa (cảnh sống một mình sau mất mát) và goá phụ (người vợ goá). Chữ này viết “goá” hay “góa” đều gặp, nghĩa không đổi.
| Nghĩa | Có vợ hoặc chồng đã qua đời |
| Loại từ | Tính từ; “goá phụ” là danh từ |
| Từ Hán Việt tương ứng | Quả (寡): goá chồng; quả phụ 寡婦, sương phụ 孀婦 |
| Sắc thái | Trung tính, gắn với mất mát nên thường được nói nhẹ nhàng, kín đáo |

Nghĩa của goá và những từ đi cùng
Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê) giảng goá ngắn gọn: có chồng hay vợ đã chết. Hai ví dụ quen thuộc là goá vợ và thành ngữ mẹ goá con côi, cảnh người mẹ mất chồng một mình nuôi đứa con mồ côi cha. Từ điển còn ghi dạng phương ngữ hoá, vẫn nghe ở vài vùng quê.
Quanh chữ này có cả một nhóm từ, mỗi từ đứng ở một vị trí khác:
- Goá chồng, goá vợ: cách nói cụ thể, cho biết ai là người ra đi. Bà ngoại em goá chồng từ năm bốn mươi tuổi.
- Goá bụa: nói khái quát về đời sống cô đơn sau khi mất người bạn đời, thường dùng cho phụ nữ, đôi khi cho cả nam giới. Những năm goá bụa, bà vẫn giữ nếp nhà như cũ.
- Goá phụ: danh từ, chỉ người đàn bà mà chồng đã qua đời. Chữ “phụ” ở đây là phụ nữ, người vợ.
- Ở goá: sống một mình, không tái hôn sau khi bạn đời qua đời.
Tình trạng goá gắn với một cuộc hôn nhân đã kết thúc vì cái chết, nên khác hẳn ly hôn hay chưa lập gia đình. Người đã tái hôn thì thường không còn được gọi là goá nữa.
Chữ 寡 và chữ 婦: quả phụ là ai?
Tiếng Hán gọi người goá chồng là quả phụ (寡婦). Thiều Chửu giảng chữ quả (寡) trước hết là ít, rồi mới đến nghĩa goá chồng. Hai nghĩa ấy gặp nhau ở một hình ảnh buồn: nhà vắng đi một người. Chữ quả còn có trong quả nhân, lời vua chư hầu xưa tự nhún mình là người ít đức, và trong quả bất địch chúng (ít không địch nổi nhiều).
Chữ phụ (婦) chỉ người vợ, người đàn bà đã lấy chồng, cũng là con dâu. Gặp chữ này trong phụ nữ, phu phụ (vợ chồng), tức phụ (con dâu).
Văn chương cũ còn dùng sương phụ (孀婦). Chữ sương (孀) mang bộ nữ, nghĩa là goá chồng, đồng âm với sương trong “sương gió”, nên dễ gợi hình ảnh người phụ nữ một mình dãi dầu. Đây là cách nói trang trọng, nay chủ yếu gặp trong sách vở.
Goá phụ, quả phụ, sương phụ và “gà trống nuôi con”
| Cách gọi | Chỉ ai | Hay dùng ở đâu |
|---|---|---|
| Goá phụ | Vợ của người đã khuất | Báo chí, văn viết thông thường |
| Quả phụ | Như goá phụ, gốc Hán Việt | Văn bản trang trọng, giấy tờ, lời kính trọng |
| Sương phụ | Như goá phụ, sắc thái văn chương | Thơ văn cũ |
| Goá vợ | Người đàn ông có vợ đã mất | Lời nói hằng ngày |
| Gà trống nuôi con | Người cha một mình nuôi con, thường vì vợ mất | Thành ngữ, lời nói hằng ngày |
Dễ nhầm nhất là goá với mồ côi. Mất cha mẹ là mồ côi; mất vợ hay chồng mới là goá. Cũng đừng lẫn với độc thân, tức chưa từng kết hôn hoặc đang sống một mình nói chung.
Về cách viết, “goá” đặt dấu sắc trên chữ a, “góa” đặt trên chữ o. Hai kiểu là hai quy ước bỏ dấu thanh đang song song tồn tại, giống hoà/hòa, thuý/thúy; bản Từ điển tiếng Việt tra trên mạng dùng kiểu “goá”, nhiều báo và bàn phím lại cho ra “góa”. Viết kiểu nào cũng đúng, miễn thống nhất trong một bài.
Những người đàn bà goá trong trang văn
Văn học Việt Nam có nhiều nhân vật sống cảnh goá, và các nhà văn thường viết về họ bằng sự thương cảm. Gần gũi với học sinh nhất là bà cụ Tứ trong truyện ngắn Vợ nhặt của Kim Lân. Chồng và con gái út đều đã mất, bà sống với anh con trai nghèo giữa nạn đói năm 1945. Khi con dẫn về một người vợ “nhặt” được, bà vừa mừng vừa tủi, nghĩ đến người chồng đã khuất rồi gạt nước mắt nói chuyện làm ăn, chuyện ngày mai. Người mẹ goá ấy là nơi truyện đặt niềm tin vào sự sống; đọc thêm ở trang tác giả, tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân.
Ở phía người đàn ông, lão Hạc trong truyện cùng tên của Nam Cao goá vợ từ sớm, một mình nuôi con trai, rồi chỉ còn con chó Vàng làm bạn khi con bỏ đi làm đồn điền cao su. Hình ảnh ông lão goá vợ, cô độc ấy làm cái chết giữ trọn lòng tự trọng ở cuối truyện càng ám ảnh. Cốt truyện có ở trang giới thiệu truyện ngắn Lão Hạc.
Một chỗ hay bị nhầm: người chinh phụ trong Chinh phụ ngâm không phải goá phụ. Nàng là vợ người đi lính, chồng còn ở biên ải, nên nỗi buồn của nàng là nỗi chờ đợi, chưa phải nỗi mất mát. Bài đoạn trích Nỗi niềm chinh phụ lớp 9 giúp thấy rõ điều đó.
Băn khoăn quanh chữ goá
Góa nghĩa là gì?
“Góa” và “goá” là cùng một từ, chỉ khác chỗ đặt dấu. Nghĩa đều là có vợ hoặc chồng đã qua đời.
Góa bụa là gì?
Là cảnh sống một mình sau khi người bạn đời mất, nói một cách khái quát. Từ này thường dùng cho phụ nữ và mang chút buồn, như trong “sống cảnh góa bụa”.
Góa phụ là gì?
Là người vợ còn ở lại sau khi chồng qua đời. Cách gọi trang trọng hơn là quả phụ; trong thơ văn cũ có khi gặp chữ sương phụ.
Nên viết goá hay góa?
Cả hai đều được chấp nhận. “Goá” theo cách bỏ dấu cũ, quen trong từ điển; “góa” theo cách bỏ dấu mới, phổ biến trên máy tính. Chọn một kiểu và dùng nhất quán.
Người đàn ông mất vợ gọi là gì?
Thường nói là goá vợ. Khi người cha một mình nuôi con, dân gian gọi vui mà thương là “gà trống nuôi con”.