Đất nứt, con bọ hung xuất hiện, mang theo những câu chuyện dân gian kỳ thú. Những truyền thuyết này chứa đựng bài học sâu sắc về cuộc sống. Khám phá thế giới huyền bí của văn hóa dân gian qua từng trang truyện.
Từ thuở bé, ngoài tính nghịch ngợm, hiếu động, Quỳnh còn tỏ ra thông minh xuất chúng khi học rất giỏi và đối đáp hay, nhất là khi ứng khẩu.
Trong làng cậu bé Quỳnh có một người hay chữ nhưng tính tình kiêu ngạo, đi đâu cũng khoe khoang, tên gọi là ông Tú Cát. Tất nhiên, từ nhỏ Quỳnh đã ghét những người có bản tính như vậy. Một hôm, Quỳnh đang đứng xem đàn lợn ăn cám thì Tú Cát đi qua. Đã được nghe người ta đồn đãi về thần đồng này, Tú Cát không ưa gì Quỳnh, ông ta ra vẻ kẻ cả gọi Quỳnh đến bảo:
– Ta nghe thiên hạ đồn mày là đứa thông minh, ứng đáp rất giỏi. Bây giờ ta ra cho mày một vế đối, nếu mà không đối được thì sẽ biết tay. Nhất định ta sẽ đánh đòn cho chừa các tật láo, nghe chưa!

Nói xong, không đợi Quỳnh thưa lại, Tú Cát liền gật gù đọc:
– “Lợn cấn ăn cám tốn.”
Đây là một câu đối rất hắc búa bởi “Cấn” và “Cám” vừa chỉ lợn và thức ăn của lợn, lại vừa là hai quẻ trong kinh Dịch, người có học nhiều còn thấy khó. Thế nhưng, không nao núng, Quỳnh đọc lại ngay:
– “Chó khôn chớ cắn càn.”
Quả là một vế đối vừa chỉnh vừa có ý xỏ xiên. “Khôn” và “Càn” cũng là hai quẻ trong kinh Dịch, Quỳnh lại còn ngầm ý chửi Tú Cát là đừng có mà rắc rối. Bị thằng nhỏ hơn mình chơi lại một đòn đau, Tú Cát tức lắm, hầm hầm bảo:
– Được để coi mầy còn thông minh đến cỡ nào. Tao còn một vế nữa, phải đối ngay thì tao phục!
Nói xong Tú Cát đọc ngay:
– “Trời sinh ông Tú Cát!”
Vế vừa ra mang tính cách ngạo nghễ, phách lối. Nào ngờ, Quỳnh chỉ ngay xuống đất, dưới lớp phân heo đùn lên những ụ nhỏ mà đáp:
– “Đất nứt con bọ hung!”
Đến nước này thì dù tức đến hộc máu mồm, Tú Cát cũng đành cút thẳng.
Ý nghĩa truyện Đất nứt con bọ hung
Người lớn kiêu ngạo gặp cậu bé lém lỉnh
Ông Tú Cát hay chữ nhưng khoe khoang, nghe đồn cậu bé Quỳnh thông minh thì sinh ghét, ra câu đối để làm khó, còn dọa sẽ đánh đòn “cho chừa các tật láo”. Cái thế kẻ cả ấy bị lật ngược chỉ sau hai câu đối của một đứa trẻ đang đứng xem lợn ăn cám. Tiếng cười của truyện nhắm vào kẻ cậy chữ mà thiếu độ lượng.
Vế đối Kinh Dịch khó ở đâu?
“Lợn cấn ăn cám tốn” vừa tả cảnh con lợn nái ăn hao cám, vừa cài tên hai quẻ trong bát quái là Cấn và Tốn (bản kể ở trên ghi nhầm là “Cấn” và “Cám”). Quỳnh đáp “Chó khôn chớ cắn càn”, cũng cài hai quẻ Khôn và Càn, lại thêm ý nhắn ông Tú đừng sinh sự. Đối được chữ đã khó, Quỳnh còn đối được cả ý.
Trời sinh và đất nứt
Vế thứ hai “Trời sinh ông Tú Cát” ngạo nghễ tự ví mình với điều trời đất sinh ra. Quỳnh chỉ xuống những ụ đất nhỏ đùn lên dưới lớp phân và đáp “Đất nứt con bọ hung”: trời đối đất, sinh đối nứt, ông Tú đối con bọ hung. Câu đối chỉnh từng chữ mà ngầm xếp người khoe khoang ngang với con vật sống trong chỗ bẩn, khiến ông Tú chỉ còn biết bỏ đi.
Nguồn gốc truyện Đất nứt con bọ hung
Truyện thuộc chuỗi giai thoại về Trạng Quỳnh tức Nguyễn Quỳnh (1677–1748), người làng Bột Thượng, huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa. Ông chỉ đỗ hương cống, chưa từng đỗ trạng nguyên; dân gian gọi là “Trạng” vì tài trào lộng, và gán cho ông rất nhiều chuyện đối đáp, chơi khăm. Đối đáp bằng câu đối cài tên quẻ Dịch, chữ Hán là lối chơi chữ quen thuộc của nhà nho xưa. Bản kể trên không ghi người kể.
Đọc thêm giai thoại Trạng Quỳnh trên trang: Đối đáp với Đoàn Thị Điểm, Làm thơ xin ăn, Trạng Quỳnh dạy học; và truyện cổ tích Sự tích con bọ hung.
Câu hỏi thường gặp
Vì sao vế đối “Lợn cấn ăn cám tốn” được coi là khó?
Vì câu vừa có nghĩa thường (con lợn nái ăn tốn cám) vừa cài tên hai quẻ Cấn, Tốn trong Kinh Dịch. Người đối phải tìm câu cũng có nghĩa thường và cũng cài hai tên quẻ, như “Chó khôn chớ cắn càn” (Khôn, Càn).
Trạng Quỳnh có thật sự đỗ trạng nguyên không?
Không. Nguyễn Quỳnh (1677–1748) chỉ đỗ hương cống; danh hiệu “Trạng” là do dân gian quý tài trào lộng của ông mà gọi.