Đề mục là tên gọi đặt cho từng phần lớn trong một văn bản, một bài báo hay một công trình nghiên cứu, cho người đọc biết phần ấy nói về điều gì. Trong sách Ngữ văn, khái niệm này xuất hiện nhiều ở bài học văn bản thông tin, bên cạnh nhan đề và sa pô. Đề mục nhỏ nằm bên trong đề mục lớn gọi là tiểu đề mục.
| Nghĩa / khái niệm | Tên của từng phần nội dung lớn trong văn bản |
| Thuộc | Yếu tố hình thức của văn bản, nhất là văn bản thông tin |
| Dấu hiệu nhận biết | Đứng riêng một dòng, in đậm hoặc nghiêng, có thể đánh số, ngắn gọn |
| Gốc từ | Hán Việt 題目: đề (đầu đề) + mục (điều, khoản) |

Đề mục: tấm biển chỉ đường trong văn bản
Hãy nghĩ tới một con đường dài có biển chỉ dẫn ở mỗi ngã rẽ. Đề mục làm đúng việc đó cho một văn bản dài: chia nó thành từng chặng, chặng nào cũng có tên. Người đọc lướt qua các đề mục là đoán được khung của cả bài, rồi chọn phần cần đọc kĩ.
Theo từ điển của Viện Ngôn ngữ học, đề mục là danh từ, chỉ cái tên đặt cho mỗi phần lớn của bài viết hoặc công trình nghiên cứu; ví dụ đi kèm là một bản báo cáo tổng kết có mấy đề mục lớn. Wiktionary tiếng Việt xếp nó gần với tiêu đề, đầu đề, và dịch sang tiếng Anh là heading.
Chữ Hán của từ này là 題目. Đề (題) là phần đầu, cái tên nêu lên trên; mục (目) nghĩa gốc là con mắt, rồi thành “điều, khoản, mục”. Thú vị ở chỗ trong tiếng Trung, 題目 hay dùng với nghĩa đề bài, câu hỏi bài tập hoặc chủ đề một luận văn. Tiếng Việt đã thu hẹp lại: đề mục là tên của một phần trong văn bản, còn “đề bài” là chuyện khác.
Đề mục, nhan đề, sa pô và mục lục khác nhau ra sao?
| Yếu tố | Đặt tên cho cái gì | Vị trí |
|---|---|---|
| Nhan đề | Cả văn bản, cả tác phẩm | Trên cùng, chỉ có một |
| Sa pô | Không đặt tên; là đoạn dẫn tóm ý hoặc gợi tò mò | Ngay dưới nhan đề |
| Đề mục | Từng phần lớn bên trong văn bản | Đầu mỗi phần, có nhiều đề mục |
| Tiểu đề mục | Từng phần nhỏ trong một đề mục | Đầu mỗi phần nhỏ |
| Mục lục | Không đặt tên; là bảng liệt kê các đề mục kèm số trang | Đầu hoặc cuối sách, tài liệu |
Một văn bản có một nhan đề nhưng có thể có năm, bảy đề mục. Muốn biết nhan đề được đặt theo những cách nào, xem bài cách đặt nhan đề cho văn bản; còn phần chữ nằm ngay dưới nhan đề trên báo được giải thích ở bài đoạn sa pô dưới tên bài báo.
Còn mục lục thì gom tất cả đề mục lại một chỗ. Viết trên máy tính, nếu đặt đề mục bằng các kiểu Heading 1, Heading 2, phần mềm soạn thảo sẽ tự dựng được mục lục từ chúng.
Dấu hiệu nhận ra đề mục
Không phải dòng chữ in đậm nào cũng là đề mục. Một dòng được coi là đề mục khi có đủ mấy đặc điểm sau:
- Đứng riêng một dòng, tách khỏi đoạn văn trước và sau nó.
- Trình bày khác chữ thường: in đậm, in nghiêng, chữ to hơn, viết hoa hoặc đổi màu.
- Ngắn: thường là một cụm từ hay một câu hỏi, ít khi dài quá một dòng.
- Bao quát phần bên dưới: đọc đề mục là đoán được nội dung chính của đoạn hoặc nhóm đoạn đi sau.
- Có thể đánh số theo thứ bậc: I, II… cho phần lớn; 1, 2… hay a, b… cho phần nhỏ.
Dấu hiệu thứ tư là quan trọng nhất. Một câu in đậm giữa đoạn văn để nhấn mạnh chỉ là chữ in đậm, vì nó không đặt tên cho phần nào cả.
Đề mục lớn, tiểu đề mục và các kiểu đặt tên
Xét theo cấp bậc, có đề mục cấp 1 chia văn bản thành những phần lớn, rồi tiểu đề mục (cấp 2, cấp 3) chia tiếp từng phần lớn. Báo cáo, luận văn thường có ba cấp như 1, 1.1, 1.1.1. Văn bản thông tin ngắn trong sách giáo khoa thường chỉ cần một hoặc hai cấp.
Xét theo cách viết, đề mục hay gặp ba dạng:
- Cụm danh từ: “Nguồn gốc của lễ hội”, “Cách chế biến”. Gọn, trung tính, hợp với báo cáo.
- Câu hỏi: “Tại sao lá cây đổi màu?”. Gợi tò mò, hợp với văn bản giải thích một hiện tượng.
- Câu khẳng định: “Rừng ngập mặn đang thu hẹp”. Nói luôn ý chính, hợp với bài báo, bài nghị luận.
Trong một văn bản, các đề mục cùng cấp nên viết cùng một dạng. Đề mục 1 là câu hỏi mà đề mục 2 là cụm danh từ thì người đọc thấy chệch nhịp.
Đề mục trong hai văn bản thông tin của sách Ngữ văn
Văn bản Sao băng (Ngữ văn 8, Cánh diều)
Văn bản giải thích hiện tượng sao băng này dùng hai lớp đề mục. Lớp in đậm nêu những vấn đề lớn; lớp in đậm nghiêng là các câu hỏi nhỏ như vì sao có mưa sao băng, làm thế nào để xem được, rồi đoạn văn ngay bên dưới trả lời. Câu hỏi đọc hiểu trong sách yêu cầu học sinh so sánh hai lớp đề mục này. Tác dụng dễ thấy: người đọc nhìn ra ý lớn và ý nhỏ, lại tìm được ngay đoạn trả lời cho thắc mắc của mình. Lời giải chi tiết có trong bài soạn văn bản Sao băng sách Cánh diều.
Văn bản Sơn Đoòng – thế giới chỉ có một (Ngữ văn 11, Chân trời sáng tạo)
Ở văn bản này, các đề mục in đậm, tách dòng chia bài thành những phần riêng: vẻ đẹp kì vĩ của hang, những con số đo đạc, chuyện khai thác du lịch sao cho không làm hại hang. Sách hỏi hệ thống đề mục cung cấp thông tin gì và cách trình bày có gì đáng chú ý; câu trả lời gợi ý có trong bài soạn Sơn Đoòng lớp 11. Chỉ cần đọc nhan đề và các đề mục là đã nắm được trình tự triển khai của cả văn bản.
Đặt hai văn bản cạnh nhau sẽ thấy: đề mục dạng câu hỏi hợp với bài giải thích, đề mục dạng cụm từ hợp với bài giới thiệu một đối tượng.
Luyện tập nhận biết và đặt đề mục
Câu 1: Trong văn bản thông tin, nhan đề, sa pô và đề mục khác nhau ở điểm nào?
Đáp án: Nhan đề là tên của cả văn bản, chỉ có một và đặt trên cùng. Sa pô là đoạn văn ngắn ngay dưới nhan đề, tóm ý hoặc gợi tò mò, không phải là tên gọi. Đề mục là tên của từng phần bên trong văn bản, có thể có nhiều đề mục và nhiều cấp.
Câu 2: Dòng in đậm “rất quan trọng” nằm giữa một đoạn văn có phải là đề mục không? Vì sao?
Đáp án: Không phải. Dòng chữ ấy không đứng riêng một dòng và không đặt tên cho một phần nào của văn bản; nó chỉ được in đậm để nhấn mạnh.
Câu 3: Đặt đề mục dạng câu hỏi cho ba phần của bài thuyết minh “Cầu vồng”: (1) sự hình thành cầu vồng; (2) bảy sắc màu của cầu vồng; (3) thời điểm dễ thấy cầu vồng.
Đáp án tham khảo: (1) “Cầu vồng sinh ra từ đâu?”; (2) “Vì sao cầu vồng có bảy màu?”; (3) “Lúc nào dễ bắt gặp cầu vồng?”. Ba đề mục cùng dạng câu hỏi, ngắn và nói đúng nội dung từng phần.
Câu 4: Sắp xếp các dòng sau thành đề mục cấp 1 và tiểu đề mục: “Đặc điểm của cây lúa”, “Thân và lá”, “Vai trò của cây lúa”, “Hạt lúa”, “Lương thực chính”, “Nguyên liệu làm bánh”.
Đáp án: Đề mục cấp 1: “Đặc điểm của cây lúa” và “Vai trò của cây lúa”. Tiểu đề mục của phần thứ nhất: “Thân và lá”, “Hạt lúa”. Tiểu đề mục của phần thứ hai: “Lương thực chính”, “Nguyên liệu làm bánh”.
Đề mục khi làm bài, soạn tài liệu và trình bày trên máy tính
Đề mục tiếng Anh là gì?
Thường dịch là heading; tiểu đề mục là subheading. Trong phần mềm soạn thảo, các kiểu Heading 1, Heading 2 chính là đề mục cấp 1, cấp 2.
Đề mục và tiêu đề có phải là một?
Hai từ gần nhau và đôi khi dùng thay cho nhau. “Tiêu đề” rộng hơn, có thể là tên của cả bài báo, cả bức thư; “đề mục” thường chỉ tên các phần bên trong văn bản.
Bài văn ở lớp có cần đặt đề mục không?
Bài văn tự sự, nghị luận viết trong giờ kiểm tra thường không đặt đề mục; mạch bài đi theo mở bài, thân bài, kết bài. Đề mục hợp với văn bản thông tin, báo cáo, bài thuyết trình, nơi người đọc cần tìm nhanh từng phần.
Tiểu đề mục là gì?
Là đề mục cấp nhỏ hơn, nằm trong một đề mục lớn, dùng để chia tiếp phần lớn ấy thành những ý nhỏ. Tiểu đề mục thường được trình bày nhỏ hơn hoặc nhạt hơn đề mục cấp trên.