Chung tình là yêu ai thì một lòng với riêng người ấy, không thay lòng đổi dạ. Chữ này gốc Hán Việt, viết là 鍾情, trong đó chung có nghĩa là dồn tụ lại. Vì thế người chung tình là người gom hết tình cảm về một mối, kể cả khi xa cách hay gặp sóng gió.
Muốn biết tiếng sét ái tình là gì và phân biệt với các khái niệm gần nghĩa, bạn có thể xem thêm bài giải thích.
| Nghĩa ngắn | Một lòng yêu một người, không đổi thay |
| Gốc từ | Hán Việt 鍾情: chung (dồn tụ, đúc lại) + tình (tình cảm) |
| Loại từ | Thường dùng như động từ, tính từ; “mối chung tình” là cách nói văn chương cũ |
| Trái nghĩa | Bội tình, phụ tình, bạc tình, phụ bạc |

Chung tình: một lòng với một người
Mục từ chung tình trong từ điển của Viện Ngôn ngữ học có hai cách dùng. Cách thứ nhất, quen nhất, là yêu riêng một người và giữ trọn lòng với người ấy. Ta nói một người đàn ông chung tình, hai người chung tình với nhau. Cách thứ hai là danh từ, nay chỉ còn trong văn chương: mối chung tình, tức tình yêu đã chung đúc, dồn vào một chỗ.
Điểm đáng để ý là chung tình luôn nói về tình yêu đôi lứa. Không ai bảo “chung tình với bạn thân” hay “chung tình với nghề”. Muốn nói sự gắn bó trước sau như một trong những quan hệ khác, tiếng Việt dùng chữ khác, sẽ bàn ở phần dưới.
Vì “ch” và “tr” đọc gần nhau ở nhiều vùng, không ít người gõ thành “trung tình”. Chữ đúng là chung, có giải thích ở bài chung tình viết với ch hay tr.
Chữ chung 鍾: chén rượu và sự dồn tụ
Chữ chung (鍾) thuộc bộ kim. Nghĩa đầu tiên của nó là cái chén uống rượu; ngày xưa nó còn là một đơn vị đong thóc, nên bổng lộc hậu được gọi là “vạn chung”. Từ hình ảnh chiếc chén hứng đầy, chữ này sinh ra nghĩa động từ: tụ lại, un đúc lại. Thành ngữ chung linh dục tú nói về nơi khí thiêng tụ về, sinh ra người tài.
Đặt cạnh chữ tình (情), chung tình là tình cảm được rót về một chén, không vương vãi. Có từ điển Hán Việt còn giảng là lòng yêu bền vững “như được đúc lại”, một hình ảnh rất dễ nhớ.
Chữ chung này khác hẳn chữ chung trong chung thủy. Chung thủy viết là 終始: chung là cuối, thủy là đầu, nghĩa đen là trước sau như một. Hai từ đọc giống nhau một tiếng mà đi từ hai chữ Hán khác nhau.
Còn một chuyện thú vị. Trong tiếng Hán, 鍾情 thiên về nghĩa “đem lòng yêu say đắm”, nên mới có câu nhất kiến chung tình: gặp lần đầu đã yêu ngay. Sang tiếng Việt, từ này dịch dần về phía sự bền lòng. Người Việt khen ai chung tình là khen người ấy giữ lòng lâu dài, chứ không khen chuyện yêu nhanh.
Gánh chung tình trong câu Kiều
Từ điển chọn hai câu Truyện Kiều của Nguyễn Du làm ví dụ cho nghĩa văn chương của chữ này:
Duyên kia có phụ chi tình,
Mà toan chia gánh chung tình làm hai?
Nguyễn Du ví mối tình như một gánh. Gánh ấy đã dồn cả về một người, nay lại toan chia làm đôi thì thành ra phụ tình. Một câu hỏi tu từ mà nói đủ cả nghĩa của chung tình lẫn nỗi sợ phải san sẻ nó.
Trong lời nói hằng ngày, từ này đi vào những câu giản dị hơn nhiều:
- Ông nội chung tình lắm, bà mất hơn chục năm rồi mà ông vẫn để nguyên chiếc ghế bà hay ngồi.
- Bạn bè trêu cậu ấy chung tình với mối tình đầu, sáu năm vẫn chưa nhìn ai khác.
- Nhân vật trong phim được khán giả thương vì sự chung tình, chờ người yêu đi lính trở về.
Chung tình đặt bên chung thủy và si tình
| Từ | Nhấn vào | Ví dụ |
|---|---|---|
| Chung tình | Tình yêu đôi lứa dồn về một người | Một chàng trai chung tình |
| Chung thủy, thủy chung | Trước sau như một, dùng được cho vợ chồng, bạn bè, quê hương | Thủy chung với bạn cũ |
| Si tình | Mức độ say mê, mê đến ngây dại | Ánh mắt si tình |
| Đa tình | Dễ rung động trước nhiều người | Chàng thi sĩ đa tình |
| Bội tình, phụ tình | Bỏ rơi, phản lại người đã yêu mình | Kẻ phụ tình |
Chung tình và chung thủy gần nhau nhất, nhưng chung thủy rộng hơn: người ta vẫn nói thủy chung với bạn bè, với quê hương. Cách viết đúng của từ này có ở bài viết chung thủy cho khỏi sai. Si tình thì chỉ nói độ say, chưa nói gì về độ bền; có người yêu mê mải vài tháng rồi quên. Muốn so kĩ hơn, đọc bài yêu say mê đến ngây dại. Chữ trung trong lòng trung thành với người, với lí tưởng cũng hay bị lẫn với chung tình, dù một bên nói về sự gắn bó nói chung, một bên chỉ nói về tình yêu.
Một lưu ý nhỏ khi dùng: chữ chung tình cần thời gian làm chứng. Khen đôi bạn mới quen được hai tuần là “chung tình” nghe hơi sớm; ông bà đi với nhau năm mươi năm thì chữ ấy mới thật vừa vặn.
Nói đến chuyện một lòng sống chết vì nhau, nhiều người nhớ ngay câu hỏi thế gian tình là gì, lời mở đầu bài từ của Nguyên Hiếu Vấn về con nhạn chết theo bạn.
Chung tình trong lời khen, lời trêu và câu dịch
Người chung tình là người như thế nào?
Là người đã yêu ai thì chỉ hướng về người đó, không lăng nhăng, không đứng núi này trông núi nọ. Sự chung tình thể hiện rõ nhất lúc khó: khi phải xa nhau lâu, khi người kia gặp hoạn nạn, hay khi có người khác đến gần.
Nhất kiến chung tình là gì?
Là thành ngữ gốc Hán 一見鍾情, nghĩa là mới gặp lần đầu đã đem lòng yêu, gần với “tiếng sét ái tình”. Ở thành ngữ này, chung tình mang nghĩa gốc tiếng Hán là đem lòng yêu, chưa nói đến chuyện bền lâu.
Chung tình tiếng Anh là gì?
Tùy câu mà dịch là faithful, devoted hoặc constant in love. Một người chung tình có thể nói là a faithful lover; còn “nhất kiến chung tình” thì tương ứng với love at first sight.
Chung tình có phải lúc nào cũng đáng khen?
Phần lớn là khen. Nhưng nếu người kia đã dứt tình, đã đối xử tệ mà mình vẫn bám lấy, thì sự chung tình dễ biến thành tự làm khổ mình. Lúc đó người ta hay dùng những chữ như lụy tình hơn là chung tình.