Chủ nghĩa hậu hiện đại là khuynh hướng văn hóa, triết học và nghệ thuật hình thành ở phương Tây nửa sau thế kỉ XX, đặc trưng bởi sự hoài nghi với những “đại tự sự” (các hệ giải thích lớn về lịch sử, tiến bộ, chân lí) và lối sáng tác chơi đùa với chính văn bản: phân mảnh, giễu nhại, cài văn bản này vào văn bản khác. Trong văn học, người ta hay gọi gọn là văn học hậu hiện đại hoặc chỉ nói “hậu hiện đại”.
| Nghĩa ngắn | Khuynh hướng đi sau và phản ứng lại chủ nghĩa hiện đại, nghi ngờ mọi chân lí tuyệt đối |
| Tên gốc | Tiếng Anh postmodernism; “hậu” là sau, “hiện đại” là chủ nghĩa hiện đại |
| Thời gian | Manh nha từ những năm 1950, được bàn rộng từ cuối những năm 1970 |
| Dấu hiệu nhận biết | Truyện tự nói về việc viết truyện, cốt truyện đứt gãy, người kể không đáng tin, nhại lại văn bản cũ, giọng mỉa mai |
| Ở Việt Nam | Được bàn nhiều khi đọc văn xuôi sau năm 1986, còn nhiều ý kiến khác nhau |

Chủ nghĩa hậu hiện đại đến sau cái gì?
Muốn hiểu chữ “hậu” thì phải nhìn lại cái đứng trước nó. Chủ nghĩa hiện đại đầu thế kỉ XX vẫn tin rằng nghệ thuật có thể tìm ra một hình thức mới, đúng hơn, sâu hơn để nắm bắt thế giới (bài chủ nghĩa hiện đại bắt đầu từ đâu kể kĩ chặng này). Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, niềm tin ấy lung lay. Người ta bắt đầu hỏi: nếu mọi câu chuyện lớn về tiến bộ, lí trí, giải phóng đều có thể dẫn tới thảm họa, thì còn câu chuyện nào đáng tin tuyệt đối?
Năm 1979, triết gia Pháp Jean-François Lyotard công bố cuốn Điều kiện hậu hiện đại (La condition postmoderne) và đưa ra một định nghĩa hay được nhắc lại: hậu hiện đại là thái độ hoài nghi đối với các đại tự sự. Thay cho một câu chuyện lớn giải thích tất cả là rất nhiều câu chuyện nhỏ, mỗi câu chuyện chỉ đúng trong một góc nhìn.
Vì là một thái độ, một trạng thái tâm thức nhiều hơn là một trường phái có tuyên ngôn, hậu hiện đại rất khó định nghĩa gọn. Nó có mặt trong kiến trúc, hội họa, điện ảnh, triết học. Bài này chỉ bàn mảng văn học.
Hiện đại và hậu hiện đại khác nhau ở đâu?
| Tiêu chí | Chủ nghĩa hiện đại | Chủ nghĩa hậu hiện đại |
|---|---|---|
| Thái độ với chân lí | Đi tìm một chân lí sâu hơn bề mặt | Nghi ngờ có chân lí duy nhất, chấp nhận nhiều cách hiểu |
| Tâm trạng chủ đạo | Lo âu, khủng hoảng, nghiêm trọng | Mỉa mai, giễu cợt, chơi đùa, kể cả với nỗi đau |
| Văn bản cũ | Muốn đoạn tuyệt với truyền thống để làm mới | Lấy văn bản cũ ra cắt dán, nhại lại, viết tiếp |
| Ranh giới | Phân biệt văn chương cao cấp với văn hóa đại chúng | Trộn lẫn sang và tầm thường, nghiêm túc và giải trí |
| Người kể chuyện | Đi sâu vào ý thức một nhân vật | Có khi lộ mặt, bình luận chính câu chuyện mình đang kể |
Cũng nên tách hậu hiện đại khỏi hai chữ gần âm. “Hiện đại” theo nghĩa thường chỉ cái mới, cái của thời nay. “Đương đại” là chuyện thời gian, chỉ những gì đang diễn ra cùng lúc với người nói, xem thêm bài văn học đương đại khác hiện đại ra sao. Một tác phẩm đương đại hoàn toàn có thể viết theo lối hiện thực truyền thống, không có gì hậu hiện đại cả.
Những tác phẩm hay được dẫn khi bàn hậu hiện đại
Ở phương Tây
Các sách giới thiệu thường kể Jorge Luis Borges và Vladimir Nabokov như những người mở đường, vì họ đã viết truyện chơi với ranh giới thật – giả từ trước khi chữ “hậu hiện đại” thịnh hành. Một ví dụ dễ hình dung là cuốn tiểu thuyết năm 1979 của Italo Calvino, Nếu một đêm đông có người lữ khách, trong đó người kể nói chuyện trực tiếp với “bạn”, người đang cầm cuốn sách, và câu chuyện cứ bị cắt ngang để bắt đầu một cuốn khác.
Ở Việt Nam sau năm 1986
Từ thời Đổi mới, giới nghiên cứu trong nước bắt đầu dùng khái niệm hậu hiện đại để đọc một số truyện ngắn, tiểu thuyết. Truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp hay được đem ra phân tích theo hướng này: lối kể lạnh, nhiều kết thúc bỏ ngỏ, những truyện viết lại nhân vật lịch sử theo cách gây tranh cãi. Bài nhà văn Nguyễn Huy Thiệp và những truyện ngắn lớn giới thiệu chặng sáng tác ấy; học sinh có thể gặp ông qua truyện Muối của rừng (xem soạn bài Muối của rừng lớp 11).
Tuy vậy, việc gắn nhãn hậu hiện đại cho văn học Việt Nam còn nhiều tranh luận: có người cho rằng ta chỉ có “yếu tố” hay “tâm thức” hậu hiện đại chứ chưa có một trào lưu đúng nghĩa. Ba bài nghiên cứu có trên trang ghi lại chính cuộc tranh luận đó: bài Hậu hiện đại ở Việt Nam, tâm thức hậu hiện đại trong tiểu thuyết 1986–2010 và hậu hiện đại tồn tại hay không tồn tại.
Năm kĩ thuật thường gặp trong văn học hậu hiện đại
- Siêu hư cấu (metafiction): truyện tự phơi bày mình là truyện, người kể bàn về cách mình đang kể. Người đọc liên tục được nhắc rằng đây là thứ được bịa ra; khái niệm gốc có trong bài yếu tố hư cấu trong văn học.
- Liên văn bản: tác phẩm dựng lên từ những văn bản có trước, như một truyện cổ tích được kể lại theo hướng khác, một nhân vật lịch sử bị đặt vào hoàn cảnh mới.
- Giễu nhại và cắt dán: bắt chước giọng văn cũ để cười cợt nó, hoặc ghép nhiều kiểu văn bản (thư, báo, nhật kí, quảng cáo) trong một tác phẩm.
- Phân mảnh, đảo lộn thời gian: cốt truyện không đi theo đường thẳng, các mảnh rời rạc, có khi đưa ra nhiều kết thúc cho cùng một câu chuyện.
- Người kể không đáng tin và giọng mỉa mai: người đọc không biết nên tin người kể tới đâu; tiếng cười đen xuất hiện ngay cả ở những chỗ bi thảm.
Một văn bản chỉ có một kĩ thuật trong số này chưa chắc là hậu hiện đại; đảo thời gian đã có từ thời hiện đại, cổ tích cũng từng được kể lại. Thứ làm nên tinh thần hậu hiện đại là sự hoài nghi đứng phía sau các kĩ thuật ấy.
Luyện tập về chủ nghĩa hậu hiện đại
Câu 1: Theo Lyotard, đặc điểm cốt lõi của hậu hiện đại là gì?
Đáp án: Là sự hoài nghi đối với các đại tự sự, tức những hệ giải thích lớn tự nhận là đúng cho mọi người, mọi thời. Thay vào đó là nhiều câu chuyện nhỏ, nhiều góc nhìn cùng tồn tại.
Câu 2: Một truyện ngắn có đoạn người kể dừng lại, nói với người đọc rằng “tôi chưa biết nên cho nhân vật này sống hay chết”. Đó là kĩ thuật gì?
Đáp án: Siêu hư cấu: người kể tự phơi bày việc mình đang hư cấu câu chuyện, phá vỡ ảo giác “chuyện có thật”.
Câu 3: Vì sao không thể coi mọi tác phẩm viết sau năm 1986 là văn học hậu hiện đại?
Đáp án: Vì hậu hiện đại là một khuynh hướng tư tưởng và nghệ thuật, không phải mốc thời gian. Nhiều tác phẩm viết sau 1986 vẫn theo lối hiện thực truyền thống; chỉ những văn bản mang tinh thần hoài nghi và các kĩ thuật kể chuyện tương ứng mới được bàn theo hướng này.
Câu 4: Kể lại truyện Tấm Cám từ điểm nhìn của mụ dì ghẻ, giọng hài hước, có phải là liên văn bản không?
Đáp án: Có. Truyện mới dựa trên một văn bản có trước và đối thoại với nó; nếu giọng kể còn chế giễu chính truyện gốc thì đó thêm cả giễu nhại.
Trong bài nghị luận, nên viết “mang dấu ấn hậu hiện đại” hơn là khẳng định “là tác phẩm hậu hiện đại” khi bàn về văn học Việt Nam, vì chính giới nghiên cứu vẫn chưa thống nhất.
Hậu hiện đại khi đọc văn và khi viết văn
Hậu hiện đại là gì nói một cách dễ hiểu?
Là lối nghĩ cho rằng không có câu chuyện nào đúng tuyệt đối, và lối viết thể hiện lối nghĩ đó: kể chuyện rời rạc, nhại lại cái cũ, để người đọc tự ghép nghĩa thay vì nhận một thông điệp sẵn.
Văn học hậu hiện đại có đặc điểm gì?
Thường gặp siêu hư cấu, liên văn bản, giễu nhại, cắt dán, phân mảnh thời gian, người kể không đáng tin và giọng mỉa mai. Không tác phẩm nào có đủ tất cả; chúng thường kết hợp vài kĩ thuật.
Chủ nghĩa hậu hiện đại ra đời khi nào?
Văn học có những tác phẩm mang tinh thần này từ những năm 1950, sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Khái niệm được bàn rộng hơn từ cuối những năm 1970, đặc biệt sau cuốn sách năm 1979 của Lyotard.
Hậu hiện đại có phải là phủ nhận hết mọi giá trị không?
Không hẳn. Nó nghi ngờ những giá trị tự xưng là tuyệt đối, nhưng nhiều tác phẩm hậu hiện đại vẫn rất quan tâm tới số phận con người nhỏ bé, chính những người bị các câu chuyện lớn bỏ quên.