Bình minh là lúc trời vừa hửng sáng, khoảng thời gian ánh sáng đầu tiên xuất hiện quanh lúc mặt trời mọc. Đây là từ Hán Việt, gần nghĩa với rạng đông, ban mai, và trái với hoàng hôn. Theo nghĩa bóng, bình minh còn chỉ buổi đầu tươi sáng của một đời người, một thời kì hay một sự nghiệp.
| Nghĩa đen | Lúc trời tang tảng sáng, quanh thời điểm mặt trời mọc |
| Nghĩa bóng | Buổi khởi đầu, giai đoạn mở ra của một điều gì đó |
| Gốc từ | Hán Việt 平明: bình (bằng, đều) + minh (sáng) |
| Loại từ | Danh từ |
| Trái nghĩa | Hoàng hôn, chạng vạng |

Bình minh trước hay sau khi mặt trời mọc?
Hai cuốn từ điển phổ biến không chốt cùng một thời điểm. Cuốn từ điển do Hoàng Phê chủ biên coi bình minh là lúc trời tang tảng sáng, trước khi mặt trời mọc. Bản từ điển mở của Hồ Ngọc Đức lại ghi là lúc mặt trời mới mọc. Người nói hằng ngày không phân biệt kĩ đến vậy: cả quãng từ khi chân trời ửng lên cho tới khi vầng mặt trời vừa nhô khỏi mặt biển, ai cũng gọi chung là bình minh.
Nếu cần chính xác như trong sách khoa học, có thể tách ra: phần trời sáng dần khi mặt trời còn dưới đường chân trời là rạng đông (tiếng Anh dawn); khoảnh khắc mép mặt trời ló lên là mặt trời mọc (sunrise). Viết văn thì dùng bình minh cho cả hai mà không ai bắt lỗi.
Nghĩa bóng thì xuất hiện trong những cụm như bình minh của cuộc đời (tuổi nhỏ, tuổi trẻ), bình minh của một nền văn minh (thuở sơ khai). Ví dụ: Những năm đi học là bình minh của đời người, sáng trong mà ngắn ngủi.
平明: buổi trời bằng và sáng
Chữ bình (平) là bằng phẳng, đều, yên; quen thuộc trong hòa bình, bình yên, bình đẳng. Chữ minh (明) ghép bởi mặt trời (日) và mặt trăng (月), nghĩa là sáng; gặp trong thông minh, văn minh, minh bạch. Trong văn cổ chữ Hán, 平明 được dùng cho lúc trời vừa sáng, cùng nhóm với bình đán (平旦) và lê minh (黎明).
Đọc chiết tự như vậy dễ hình dung: ánh sáng trải đều trên mặt đất phẳng, chưa gắt như buổi trưa. Từ này gần như chỉ sống trong lối nói hơi văn vẻ. Ở nhà, người ta bảo “sáng sớm”, “tờ mờ sáng”; lên trang viết mới chọn “bình minh”. Thành ra hai câu cùng tả một cảnh lại khác giọng: “Năm giờ sáng mẹ đã dậy nấu cơm” và “Mẹ thức dậy khi bình minh còn chưa lên”.
Rạng đông, ban mai, hoàng hôn đứng ở đâu?
| Từ | Chỉ lúc nào | Sắc thái |
|---|---|---|
| Bình minh | Lúc trời hửng sáng, quanh khi mặt trời mọc | Văn vẻ, hay dùng cả nghĩa bóng |
| Rạng đông, hừng đông | Phía đông bắt đầu ửng sáng, mặt trời chưa lên | Gợi màu trời; “hừng đông” quen ở miền Nam |
| Ban mai | Buổi sáng sớm, kéo dài hơn bình minh | Mềm, nhiều chất thơ |
| Tinh mơ, tinh sương | Lúc trời còn mờ, sương chưa tan | Hay đi với việc dậy sớm, ra đồng |
| Hoàng hôn, chạng vạng | Lúc mặt trời lặn, trời sẩm tối | Trái nghĩa; gợi kết thúc, buồn |
Cặp bình minh – hoàng hôn hay được đặt cạnh nhau trong thơ để nói về một ngày, rồi rộng ra là một đời. Trang tuyển thơ hoàng hôn và bình minh có thể giúp thấy rõ hai sắc độ đó. Chữ viết cũng cần để ý một chỗ: bình minh mang dấu huyền ở chữ đầu; viết “binh minh” là sai nghĩa hẳn, vì “binh” là lính.
Bình minh qua trang sách học trò
Bài thơ Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận khép lại bằng một bình minh rất đẹp: thuyền ra khơi lúc hoàng hôn, hát suốt đêm, và trở về khi mặt trời nhô lên trên biển, như đang chạy đua cùng mặt trời. Vòng thời gian từ chiều đến sáng làm khung cho cả bài thơ; phần phân tích khổ cuối có ở bài phân tích Đoàn thuyền đánh cá.
Nhỏ hơn, sách Tiếng Việt 4 bộ Chân trời sáng tạo có bài đọc mang tên Trong ánh bình minh; gợi ý trả lời các câu hỏi nằm ở trang bài Trong ánh bình minh lớp 4. Khi tả cảnh sáng sớm, các em có thể học cách mấy tác giả này để ánh sáng đổi dần: xám, hồng, rồi vàng, thay vì chỉ viết “bình minh rất đẹp”.
Bình minh, đặt câu và dịch nghĩa
Bình minh nghĩa là gì trong tiếng Việt?
Là khoảng trời vừa sáng, lúc mặt trời sắp mọc hoặc vừa mọc. Đây là danh từ Hán Việt, mang sắc thái văn chương hơn “sáng sớm”.
Bình minh tiếng Anh là gì?
Thường dịch là dawn hoặc daybreak; nếu muốn nói đúng khoảnh khắc mặt trời ló lên thì dùng sunrise. Nghĩa bóng “buổi đầu” cũng dùng the dawn of…, như the dawn of civilization.
Bình minh và rạng đông có giống nhau không?
Gần như đồng nghĩa và thay được cho nhau trong văn. Nếu xét kĩ, rạng đông nghiêng về lúc chân trời phía đông ửng sáng khi mặt trời chưa lên, còn bình minh bao cả lúc mặt trời vừa mọc.
Đặt câu với từ bình minh thế nào cho hay?
Gắn nó với một chi tiết cụ thể thay vì khen chung chung. Ví dụ: Ánh bình minh rọi qua khe cửa, vệt nắng nằm dài trên trang vở còn dở.