Bài 60: Ôn tập và kể chuyện ở trang 132–133 sách Tiếng Việt lớp 1 Kết nối tri thức tập 1 giúp con ôn các vần ep, êp, ip, up, anh, ênh, inh, ach, êch, ich, ang, ăng, âng đã học ở Bài 56–59. Bài có 3 hoạt động: đọc, viết và kể chuyện Quạ và đàn bồ câu.
Nếu con còn đọc vấp các vần vừa học, bố mẹ mở lại bài học vần ang, ăng, âng sách Kết nối tri thức cho con luyện thêm.

Bài 60: Ôn tập và kể chuyện học những gì?
- Đọc các tiếng có vần đã học trong bảng và nói tiếng đó có vần gì.
- Đọc các từ trên những quả bầu và đoạn văn ngắn về bạn Hà.
- Viết câu Em vẽ vầng trăng sáng.
- Kể chuyện Quạ và đàn bồ câu theo 4 tranh.
Đọc và viết (trang 132–133)
Câu 1 (trang 132): Đọc
Bảng tiếng, hàng 1: đẹp, xếp, kịp, cúp, rãnh, ghềnh, đình; hàng 2: vách, chếch, đích, sáng, thẳng, vâng. Các quả bầu trên giàn ghi từ: xinh đẹp, kịp thời, sạch sẽ, thếp giấy, nhanh nhẹn, thẳng hàng, chênh chếch, thích thú, vâng lời, giúp đỡ. Đoạn đọc ngắn trong khung vàng ở cuối trang.
Trả lời:
Con đọc từng tiếng và nói tiếng đó có vần gì:
| Tiếng | đẹp | xếp | kịp | cúp | rãnh | ghềnh | đình |
| Vần | ep | êp | ip | up | anh | ênh | inh |
| Tiếng | vách | chếch | đích | sáng | thẳng | vâng | |
| Vần | ach | êch | ich | ang | ăng | âng |
Đọc từ trên các quả bầu. Một số từ cần hiểu: kịp thời là đúng lúc cần; thếp giấy là một xấp nhiều tờ giấy; nhanh nhẹn là làm việc nhanh, gọn; chênh chếch là hơi nghiêng, hơi lệch sang một bên; vâng lời là nghe theo lời bố mẹ, thầy cô.
Đoạn đọc có năm câu, kể Hà được bà cho một con gà. Sáng nào Hà cũng dậy sớm đợi gà gáy nhưng chẳng thấy gáy. Một hôm, Hà nghe gà kêu cục ta cục tác thì hiểu ra lí do: đó là gà mái, gà mái đẻ trứng chứ không gáy. Tiếng có vần đã ôn: thích (ich), sáng (ang), tỉnh (inh), chẳng (ăng).
Câu 2 (trang 133): Viết
Trả lời: Con viết câu Em vẽ vầng trăng sáng. vào vở.
- Chữ E đầu câu viết hoa. Cuối câu có dấu chấm.
- Ba tiếng vầng (âng), trăng (ăng), sáng (ang) đều có ng cuối; con viết đúng dấu mũ trên â, dấu mũ ngửa trên ă.
Kể chuyện: Quạ và đàn bồ câu (trang 133)
Câu 3 (trang 133): Kể chuyện
Quạ và đàn bồ câu, bốn tranh kèm câu hỏi: (1) Quạ bôi trắng lông mình để làm gì? (2) Vì sao đàn bồ câu cho quạ vào chuồng? (3) Phát hiện ra quạ, đàn bồ câu làm gì? (4) Vì sao họ nhà quạ cũng đuổi quạ đi?
Trả lời: Truyện được kể theo nhà văn Nga Lép Tôn-xtôi, lời kể in trong sách giáo viên.
- Tranh 1: Quạ thấy bồ câu được người ta cho ăn no đủ nên thèm lắm. Nó bôi bột trắng lên lông để giả làm bồ câu.
- Tranh 2: Bồ câu tưởng quạ là bạn cùng loài nên để nó vào chuồng.
- Tranh 3: Quạ quên mất mình đang giả dạng, cất tiếng kêu của quạ. Đàn bồ câu nhận ra ngay, xúm lại mổ và đuổi quạ đi.
- Tranh 4: Quạ bay về tổ cũ. Họ nhà quạ thấy nó trắng xóa, chẳng giống quạ nên sợ hãi và cũng không cho ở lại.
Bài học: hãy sống thật là mình. Giả dối để được lợi thì đến lúc bị lộ, ai cũng xa lánh.
Ghi nhớ sau Bài 60
Vần có p cuối: ep, êp, ip, up. Vần có nh cuối: anh, ênh, inh. Vần có ch cuối: ach, êch, ich. Vần có ng cuối: ang, ăng, âng. Bài tiếp theo là Bài 61: ong, ông, ung, ưng.
Chuẩn bị cho tiết học tới, em có thể đọc trước bài ong, ông, ung, ưng lớp 1 Kết nối tri thức.