Ba quả táo lăn lóc trên con đường cổ tích, mang theo những câu chuyện kỳ diệu. Mỗi quả táo ẩn chứa một bí mật, chờ đợi được hé mở. Những nhân vật và bài học trong truyện cổ tích nước ngoài luôn cuốn hút và đầy bất ngờ.
Chương 14
Tâu hoàng đế, thiếp đã có vinh dự một lần được kể với Người chuyến vi hành của hoàng đế Haroun Alraschid ra khỏi kinh thành vào một đêm trước. Thiếp xin kể hầu hoàng đế một chuyến vi hành khác của vị hoàng đế này. Một hôm, nhà vua báo cho tể tướng Giafar phải có mặt ở cung điện vào tối hôm sau: – Tể tướng à – Nhà vua bảo – Ta muốn đi một vòng xung quanh thành phố để nghe ngóng xem dư luận nhân dân ra sao và nhất là để biết xem họ có điều gì không được hài lòng với những pháp quan của ta không. Nếu thấy có những lời kêu ca phàn nàn, thì lập tức ta sẽ cách chức chúng và thay thế bằng những người khác có đầy đủ tài đức để làm tròn trách nhiệm. Ngược lại nếu có những pháp quan được dân chúng ca ngợi thì ta sẽ có những sự nhìn nhận xứng đáng.
Tể tướng tới cung điện đúng giờ quy định cùng với Mesrour, tổng thái giám. Cả ba người cải trang để không ai nhận biết và cùng ra khỏi cung điện. Họ đi qua nhiều công trường, nhiều chợ và khi đi vào một đường phố nhỏ, họ nhìn thấy dưới ánh trăng một ông lão có bộ râu trắng bạc, thân hình cao, trên đầu đội một tấm lưới đánh cá, một tay cắp bên sườn chiếc rổ bằng lá dừa, một tay chống gậy. Trông bề ngoài thì lão già này chẳng phải là người giàu có – Hoàng đế nói – Chúng ta hãy tiếp cận lão và hỏi lão tình hình làm ăn ra sao. – Này ông già – Tể tướng hỏi – Nhà ngươi là ai vậy? – Thưa các ngài – Ông già đáp – Tôi là người đánh cá nhưng là người nghèo khổ nhất trong cái nghề này. Tôi từ nhà ra đi từ sớm, nhưng cho đến giờ vẫn chưa được một con cá nhỏ nào. Tôi có vợ và các con nhỏ, không biết lấy gì mà nuôi cả nhà đây!
Hoàng đế, động lòng thương hại bảo lão: – Liệu nhà ngươi có can đảm quay lại chỗ cũ quăng lưới một lần nữa không? Chúng ta sẽ cho nhà ngươi một trăm đồng sequins đổi lấy bất cứ cái gì nhà ngươi kéo lên được. Nghe vậy, lão đánh cá quên hết mệt nhọc trong ngày, cùng với hoàng đế, tể tướng Giafar và Mesrour quay lại sông Tigre, lòng thầm nhủ: “Các ngài này có vẻ là những người lương thiện, đứng đắn chẳng lẽ lại nuốt lời. Chỉ cần một phần trăm của số tiền đó đối với ta cũng đã là quá nhiều rồi”.

Họ đến bờ sông Tigre. Lão đánh cá buông lưới rồi kéo lên được một chiếc hòm đóng kín khá nặng. Hoàng đế tức thì bảo tể tướng đếm đưa cho lão đủ một trăm đồng sequins và cho lão về. Mesrour theo lệnh hoàng đế vác chiếc hòm lên vai. Hoàng đế nôn nóng muốn biết xem trong hòm chứa gì, vội vã quay về hoàng cung. Hòm được mở ra, người ta thấy một cái túi to đan bằng lá dừa, miệng túi được khâu lại bằng một sợi len đỏ. Để hoàng đế khỏi sốt ruột, chẳng ai muốn tỉ mỉ gỡ dần sợi len đó mà dùng dao sắc cắt đi cho mau. Họ lôi ra khỏi túi một cái bọc bằng vải thô buộc dây thừng. Cởi sợi thừng và mở cái bọc, họ kinh hãi trông thấy thân thể bị chặt ra làm nhiều mảnh của một phụ nữ trẻ da trắng như tuyết đọng.” Scheherazade tới đây, nhận thấy trời đã sáng nên ngừng lời. Đêm hôm sau nàng kể tiếp:
“- Tâu hoàng đế, hẳn là Người cũng đã hình dung là vị hoàng đế đã kinh ngạc như thế nào trước cái cảnh tượng ghê rợn đó: Nhưng từ kinh ngạc ông chuyển sang giận dữ, ném cho tể tướng một cái nhìn toé lửa: “A, quân khốn kiếp – Ông kêu lên – Phải chăng đó là cách nhà ngươi cai trị và nắm được mọi hành động của dân chúng? Người ta đã ngang nhiên phạm tội sát nhân ngay tại kinh đô của ta, người ta đã ném những thần dân của ta xuống sông Tigre để họ đòi trả hận ta trong ngày phán xử cuối cùng? Nếu nhà ngươi không mau tìm ra được kẻ sát nhân để trả thù cho người phụ nữ này thì ta thề có Thượng đế với tên thánh của Người là ta sẽ treo cổ ngươi, ngươi và cả bốn chục người họ hàng thân tộc nhà ngươi. – Thưa đấng Thống lĩnh các tín đồ – Tể tướng tâu – Xin hoàng đế cho thần thời gian để tiến hành cuộc điều tra. – Ta cho ngươi ba ngày – Hoàng đế bảo – Ngươi hãy suy nghĩ kỹ.
Tể tướng Giafar lui về, lòng hết sức hoang mang: “Chao ôi! – Ông thầm than – Trong một thành phố rộng mông mênh và dân cư đông đúc như Bagdad này, làm sao mà ta khui lên được một tên giết người, có thể nó phạm tội ác này không người chứng kiến, và có thể nó đã cao chạy xa bay rồi cũng nên. Một kẻ nào khác ta thì có thể vào trong nhà giam lôi một tên tội phạm khốn khổ nào đó ra và xử tội chết để làm hài lòng hoàng đế, nhưng ta thì không thể làm cái điều trái lương tâm ấy được. Ta thà chết còn hơn là cứu sống mình bằng cách đó!”
Ông lệnh cho các quan hành pháp và toà án dưới quyền làm một cuộc săn lùng hung thủ. Họ tung người của họ và cả chính họ vào cuộc săn lùng này. Nhưng rồi tất cả những nỗ lực của họ đều vô ích. Dù khẩn trương và mẫn cán tới đâu chăng nữa thì họ cũng không sao phát hiện được kẻ gây ra vụ án mạng: Tể tướng thấy là nếu không có sự giúp rập của trời thì mạng ông thật khó toàn.
Quả nhiên, ngày thứ ba đã tới, một lính cận vệ tới nhà viên đại thần đáng thương này bắt đi theo y. Tể tướng cúi đầu chịu lệnh. Hoàng đế hỏi thủ phạm đâu. – Tâu đấng Thống lĩnh các tín đồ – Ông tâu vua giọng đầy nước mắt – Không tìm thấy một người nào cung cấp cho thần bất cứ một tin tức gì cả. Hoàng đế nổi giận lôi đình, nặng lời quở mắng rồi ra lệnh treo cổ tể tướng cùng với bốn chục người họ hàng thân thích của ông trước cổng hoàng cung.
Trong khi những người thừa hành bận rộn trong việc dựng các giá treo cổ và cho người đi bắt bốn chục người trong họ tể tướng thì viên quan truyền tin theo lệnh hoàng đế đi rao tin này trong khắp các khu vực trong thành phố. Những ai muốn chứng kiến hình phạt xử giảo tể tướng Giafar cùng với bốn chục thân nhân tể tướng thì tới ngay công trường ngay phía trước hoàng cung!”.
Khi mọi việc đã sẵn sàng, viên quan thi hành án cùng với đám rất đông lính cận vệ điều tể tướng cùng với bốn chục thân nhân của ông ra đặt mỗi người đứng dưới một cái giá gỗ dành cho họ, quàng vào cổ mỗi người vòng dây thừng dùng để kéo họ lên lửng lơ khỏi mặt đất. Dân chúng kéo tới kín đặc cả công trường, nhìn cảnh đau lòng không sao cầm được nước mắt vì tể tướng Giafar và những thân nhân của vị quan thanh liêm, trung thực này đối với họ vô cùng thân thiết và đáng kính.
Không có gì có thể ngăn cản được việc thi hành lệnh bất di bất dịch của vị hoàng đế nghiệt ngã này. Mạng sống của những con người nhân hậu nhất kinh thành này đang như treo trên sợi tóc thì một chàng trai rất khôi ngô tuấn tú và ăn vận lịch sự rẽ đám đông, đi tới tận chỗ tể tướng đầu triều đang đứng chờ treo cổ, và sau khi kính trọng hôn tay ông, chàng nói: – Thưa ngài tể tướng tôn quý, người đứng đầu các đại thần trong triều, nơi nương tựa của dân nghèo, ngài không phải là thủ phạm mà cần phải có mặt tại đây. Xin ngài hãy lui bước và để cho tôi đền mạng cho người thiếu phụ đã bị ném xuống sông Tigre. Chính tôi là kẻ đã giết nàng và xứng đáng phải bị trừng phạt.
Mặc dù những lời thú tội trên đây đã làm cho tể tướng hết sức vui mừng, nhưng ông không khỏi cảm thấy thương hại chàng trai mà khuôn mặt đáng ra phải có vẻ hung hãn thì lại là một cái gì đó dịu dàng quyến rũ. Ông đang sắp sửa trả lời chàng trai thì lại có một người to lớn đã đứng tuổi cũng rẽ đám đông bước tới và nói với tể tướng: – Xin ngài đừng tin những gì chàng trai này nói. Không có ai ngoài tôi ra là người đã giết người thiếu phụ đã tìm thấy ở trong hòm ấy. Sự trừng phạt phải giáng xuống chỉ một mình tôi thôi. Nhân danh Thượng đế, tôi tha thiết xin chớ trừng phạt kẻ vô tội. – Thưa ngài – Chàng thanh niên nói với tể tướng – Tôi xin thề là chính tôi đã có hành động độc ác đó và không có một người nào đồng loã. – Con trai của ta ạ – Ông già cắt ngang – Chẳng qua là vì tuyệt vọng bất mãn với số phận mà anh tới đây để nói thế. Còn ta, ta đã sống trên đời này quá lâu rồi, cần phải rời bỏ thôi. Hãy để ta chết thay anh. Thưa ngài – Ông nói tiếp với tể tướng – Tôi xin nhắc lại là chính tôi mới là kẻ giết người. Hãy xử tôi, chớ nên chần chừ nữa.
Lời thú nhận của ông già và chàng trai buộc tể tướng Giafar phải đưa cả hai tới trước hoàng đế dưới sự cho phép rất dễ dàng vui vẻ của viên chỉ huy pháp trường. Khi đã tới trước hoàng đế, tể tướng hôn mặt đất bảy lần và tấu trình: – Thưa đấng Thống lĩnh các tín đồ, thần đưa ông già và chàng trai này tới bệ kiến hoàng thượng. Cả hai người đều nhận mình là thủ phạm đã sát hại người phụ nữ đó. Thế là hoàng đế hỏi các bị can ai trong hai người đã tàn sát người thiếu phụ quá dã man và ném xác xuống sông Tigre như vậy. Chàng trai một mực nhận chính là mình, nhưng ông già thì nói ngược lại. Hoàng đế bảo tể tướng: – Đưa cả hai đi xử giảo. – Tâu bệ hạ – Tể tướng nói – Nhưng chỉ có một sát nhân. Thật bất công nếu bắt cả hai cùng chết. Nghe vậy, chàng trai lại nói: – Thề có Thượng đế đã nâng trời lên cao như hiện nay, chính tôi là người đã giết người phụ nữ đó, chính tôi đã chặt bà ta ra nhiều khúc và ném xuống sông Tigre cách đây bốn hôm. Tôi sẽ không được ở bên phía những người quang minh chính đại trong ngày phán xử cuối cùng, nếu điều tôi nói đây là giả dối. Tôi mới đúng là người đáng chịu hình phạt.
Hoàng đế ngạc nhiên về lời thề đó và ông tin, hơn nữa ông già cũng không phản bác. Vì vậy, ngoảnh về chàng trai, ông bảo: – Quân khốn kiếp! Vì cớ gì mà mi lại phạm vào một tội ác kinh khủng như vậy? Và nguyên nhân nào đã thúc đẩy mi tới đây nộp mình? – Thưa đấng Thống lĩnh các tín đồ – Chàng trai đáp – Nếu có thể ghi chép lại những gì xảy ra giữa người đàn bà này và tôi thì thiết nghĩ đó cũng là một chuyện giúp ích rất nhiều cho những người đàn ông trên đời này. – Vậy mi hãy kể cho ta nghe đi – Hoàng đế bảo – Ta ra lệnh cho mi đó. Chàng trai tuân theo và bắt đầu kể chuyện mình bằng lời lẽ như sau…” Scheherazade muốn kể tiếp, nhưng buộc phải để lại đêm hôm sau.
Schahriar nhắc nhở hoàng hậu và hỏi nàng là chàng trai đó kể gì với hoàng đế Haroun Alraschid. – Tâu hoàng thượng – Scheherazade đáp – Chàng ta cất tiếng và kể như thế này:
“- Thưa đấng Thống lĩnh các tín đồ, người thiếu phụ bị sát hại ấy là vợ tôi, con gái của ông già mà bệ hạ đang thấy đây, cũng là chú ruột của tôi. Nàng mới mười hai tuổi thì chú gả nàng cho tôi, đến nay đã mười một năm. Chúng tôi có ba con trai, cả ba đều còn sống. Tôi phải nói cho công bằng rằng nàng chưa hề làm điều gì khiến tôi phật lòng. Nàng nết na, đứng đắn, chỉ một lòng chiều chuộng chồng. Về phần tôi, tôi yêu nàng hết mực, nàng muốn gì tôi cũng lo cho trước, chẳng bao giờ trái ý.
Cách đây chừng hai tháng, nàng lâm bệnh. Tôi hết lòng chăm sóc, không tiếc gì để nàng mau khỏi. Được một tháng, nàng đỡ dần và muốn đi nhà tắm. Trước khi ra khỏi nhà, nàng bảo tôi: “Anh à” – nàng vẫn gọi tôi thân mật như thế, vì chúng tôi là anh em con chú con bác – “em thèm táo lắm. Anh tìm được cho em vài quả thì em mừng lắm. Em thèm từ lâu rồi, mà càng ngày càng thèm, nếu không được ăn sớm, em sợ sẽ có điều chẳng lành”. – Được, anh sẽ cố hết sức để em được vừa lòng – Tôi đáp.
Tôi đi ngay khắp các chợ, các cửa hàng tìm táo, trả một đồng sequin một quả cũng không mua nổi. Tôi về nhà, buồn bực vì nhọc công vô ích. Còn vợ tôi, đi tắm về không thấy táo, nàng buồn đến mất ngủ cả đêm. Sáng hôm sau tôi dậy thật sớm, đi khắp các vườn cây, nhưng cũng chẳng hơn gì hôm trước. Chỉ gặp một ông lão làm vườn bảo rằng dù tôi có vất vả đến đâu cũng không tìm đâu ra táo, ngoài khu vườn của bệ hạ ở Basra.
Vì yêu vợ tha thiết, không muốn sau này phải tự trách mình đã không chiều nàng, tôi mặc quần áo của người đi đường, nói cho nàng biết ý định rồi lên đường đi Basra. Tôi đi gấp, chỉ mười lăm ngày đã trở về, mang theo ba quả táo, mỗi quả giá một đồng sequin. Trong vườn chỉ còn có ba quả ấy, người làm vườn cũng không chịu bán rẻ hơn. Về đến nhà, tôi đưa táo cho vợ, nhưng nàng đã hết thèm. Nàng chỉ nhận lấy rồi đặt bên cạnh. Nàng vẫn ốm, còn tôi thì chẳng biết chữa cách nào.
Ít hôm sau chuyến đi, tôi đang ngồi trong cửa hàng ở khu chợ bán vải vóc sang trọng thì thấy một gã nô lệ to lớn, mặt mũi hung tợn, đi vào, tay cầm một quả táo mà tôi nhận ra ngay là một trong ba quả tôi mang từ Basra về. Tôi không thể lầm được, vì tôi biết cả thành Bagdad và các khu vườn quanh đó không còn một quả táo nào. Tôi gọi gã lại: – Này anh, làm ơn cho tôi biết anh lấy quả táo này ở đâu? – Quà của người tình tôi đấy – Gã cười, đáp – Hôm nay tôi đến thăm, thấy nàng hơi ốm. Thấy bên cạnh nàng có ba quả táo, tôi hỏi ở đâu ra, nàng bảo lão chồng tốt bụng của nàng đi mười lăm ngày đường chỉ để tìm mua cho nàng. Chúng tôi cùng ăn uống với nhau, lúc về tôi cầm theo một quả, quả này đây.
Nghe gã nói, tôi như người mất trí. Tôi đứng dậy đóng cửa hàng, chạy vội về nhà, lên phòng vợ. Nhìn ngay chỗ để táo, tôi chỉ thấy còn hai quả, bèn hỏi quả thứ ba đâu. Vợ tôi quay đầu nhìn, thấy chỉ còn hai quả, thản nhiên đáp: “Anh à, em chẳng biết nó đi đâu mất”. Nghe vậy, tôi tin ngay lời gã nô lệ là thật. Cơn ghen làm tôi mờ cả mắt. Tôi rút con dao giắt ở thắt lưng đâm vào cổ người đàn bà khốn khổ ấy. Rồi tôi chặt đầu nàng, chặt xác ra nhiều mảnh, gói lại bỏ vào một cái túi lá, lấy sợi len đỏ khâu miệng túi, rồi cho vào một cái hòm. Đêm xuống, tôi vác hòm lên vai đem ra ném xuống sông Tigre.
Hai đứa con nhỏ của tôi đã đi ngủ, còn đứa lớn không có nhà. Lúc về, tôi thấy nó ngồi khóc nức nở bên cửa. Tôi hỏi vì sao nó khóc. “Thưa cha – nó nói – sáng nay con lấy của mẹ một quả táo trong ba quả cha mang về, mẹ không biết. Con giữ mãi, nhưng lúc nãy đang chơi ngoài đường với các em thì có một gã nô lệ to lớn đi qua giật lấy quả táo trong tay con rồi mang đi. Con chạy theo đòi, bảo đó là táo của mẹ đang ốm, cha phải đi mười lăm ngày đường mới tìm được, mà gã vẫn không chịu trả. Con cứ chạy theo kêu, gã quay lại đánh con rồi chạy thật nhanh qua mấy ngõ ngách, con không đuổi kịp. Từ lúc ấy con ra ngoài thành đi lang thang chờ cha về. Con đợi cha để xin cha đừng nói với mẹ, kẻo mẹ ốm nặng thêm”. Nói xong, nó lại càng khóc to.
Lời đứa con làm tôi đau đớn không sao tả xiết. Bấy giờ tôi mới biết tội ác của mình ghê gớm đến mức nào. Tôi hối hận, nhưng đã quá muộn, vì đã tin lời bịa đặt của tên nô lệ khốn kiếp. Hắn nghe con tôi kể rồi đặt ra câu chuyện tai hại mà tôi tưởng là thật. Đúng lúc ấy chú tôi, ông già đang đứng đây, đến thăm con gái. Nhưng thay vì gặp con còn sống, ông được chính tôi báo tin con đã chết. Tôi không giấu ông điều gì, và chẳng đợi ông kết tội, tôi tự nhận mình là kẻ tội lỗi nhất trên đời. Vậy mà ông không trách mắng tôi một lời, chỉ cùng khóc với tôi. Hai chú cháu khóc suốt ba ngày không dứt: ông khóc đứa con gái ông hằng thương yêu, còn tôi khóc người vợ hiền mà chính tay tôi đã giết một cách tàn nhẫn chỉ vì quá dễ tin lời một tên nô lệ dối trá. Thưa đấng Thống lĩnh các tín đồ, đó là lời thú tội thành thật mà bệ hạ muốn nghe. Bệ hạ đã biết hết mọi điều về tội ác của tôi, xin bệ hạ cứ xử tội. Hình phạt dù nặng đến đâu, tôi cũng không oán thán, và còn thấy là quá nhẹ.
Hoàng đế vô cùng kinh ngạc.” Scheherazade kể tới đây thì thấy trời đã sáng, nàng ngừng lời. Đêm hôm sau nàng kể tiếp:
“- Tâu hoàng đế, vị hoàng đế ấy hết sức ngạc nhiên trước câu chuyện của chàng trai. Nhưng là một vị vua công minh, ông thấy chàng đáng thương hơn đáng tội, nên đứng về phía chàng. – Việc làm của chàng trai này – Ông phán – trước Thượng đế có thể tha thứ, trước người đời có thể cảm thông. Tên nô lệ độc ác mới là kẻ duy nhất gây ra vụ án mạng này, chỉ hắn phải chịu tội. Vậy nên – Ông quay sang tể tướng – ta cho nhà ngươi ba ngày để tìm cho ra hắn. Hết hạn mà không đem hắn đến đây thì ta sẽ xử tử nhà ngươi thay hắn.
Tể tướng Giafar đáng thương vừa tưởng đã thoát nạn lại bị lệnh mới này đè nặng. Nhưng biết tính hoàng đế, ông không dám cãi một lời, lui về nhà, nước mắt lưng tròng, tin chắc mình chỉ còn sống được ba ngày. Ông tin chắc không thể tìm ra tên nô lệ, nên cũng chẳng buồn tìm. “Trong một thành phố như Bagdad – Ông nói – biết bao nhiêu là nô lệ, làm sao ta nhận ra được kẻ ấy? Trừ phi Thượng đế chỉ cho ta, như Người đã cho ta tìm ra kẻ giết người, thì không gì cứu được ta”.
Hai ngày đầu, ông ở nhà buồn rầu cùng gia đình, cả nhà vây quanh ông than khóc, kêu ca hoàng đế quá khắc nghiệt. Sang ngày thứ ba, ông bình thản chuẩn bị đón cái chết như một vị đại thần liêm chính, không có gì phải hổ thẹn. Ông cho mời các quan tòa và người làm chứng đến ký vào bản di chúc ông lập trước mặt họ. Rồi ông ôm hôn vợ con, nói lời vĩnh biệt. Cả nhà khóc như mưa. Chưa từng có cảnh nào cảm động hơn. Cuối cùng, một viên thị vệ trong cung đến báo rằng hoàng đế đang sốt ruột vì không có tin gì của ông, cũng chẳng thấy tên nô lệ mà ông được lệnh đi tìm. – Tôi được lệnh đưa ngài đến trước ngai vàng – Viên thị vệ nói. Vị tể tướng đau khổ sửa soạn đi theo. Nhưng vừa ra đến cửa thì người ta bế đến cho ông đứa con gái út, chừng năm sáu tuổi. Các bà vú đưa bé đến để cha nhìn mặt con lần cuối.
Vốn thương đứa con này đặc biệt, ông xin viên thị vệ cho dừng lại một lát. Ông đến bên con, bế con lên, hôn con mãi. Đang hôn, ông thấy trong ngực áo con có vật gì to tròn, lại tỏa mùi thơm. – Con yêu của cha – Ông hỏi – con có gì trong ngực áo thế? – Thưa cha – Bé đáp – một quả táo có khắc tên hoàng đế, chúa tể của chúng ta. Anh Rihan, người nô lệ nhà mình, bán cho con hai đồng sequin đấy ạ.
Nghe đến chữ táo và chữ nô lệ, tể tướng Giafar kêu lên vừa ngạc nhiên vừa mừng rỡ, thò ngay tay vào ngực áo con lấy quả táo ra. Ông cho gọi tên nô lệ đang ở gần đó. Hắn vừa đến trước mặt, ông quát: – Đồ đểu cáng, mày lấy quả táo này ở đâu? – Thưa ông – Tên nô lệ đáp – tôi xin thề không ăn cắp nó trong nhà ông, cũng không ăn cắp trong vườn của đấng Thống lĩnh các tín đồ. Hôm nọ tôi đi qua một phố thấy ba bốn đứa trẻ đang chơi, một đứa cầm quả táo, tôi giật lấy mang đi. Thằng bé chạy theo, bảo quả táo không phải của nó mà của mẹ nó đang ốm, cha nó phải đi một chuyến xa mới mua được ba quả cho mẹ nó vì mẹ nó thèm, quả này nó lấy mà mẹ nó không biết. Nó van xin mãi tôi cũng không trả. Tôi mang về nhà, bán cho cô chủ nhỏ con gái ông hai đồng sequin. Tôi chỉ biết có thế.
Giafar không sao hết kinh ngạc khi thấy trò gian xảo của một tên nô lệ đã gây ra cái chết của một người đàn bà vô tội và suýt nữa gây ra cái chết của chính ông. Ông dẫn tên nô lệ đi theo. Đến trước hoàng đế, ông tâu lại tường tận những gì tên nô lệ đã khai, và cái tình cờ đã giúp ông tìm ra tội của hắn.
Chưa bao giờ hoàng đế ngạc nhiên đến thế. Ông không nén được, phá lên cười. Rồi ông lấy lại vẻ nghiêm nghị, bảo tể tướng rằng tên nô lệ của ông đã gây ra một chuyện tày đình như vậy thì phải bị trừng phạt thật nặng để làm gương. – Tâu bệ hạ, thần không dám cãi – Tể tướng tâu – nhưng tội của hắn chưa phải không thể tha. Thần biết một câu chuyện còn lạ lùng hơn, về một vị tể tướng ở Cairo tên là Noureddin Ali và về Bedreddin Hassan ở Basra. Bệ hạ vốn thích nghe những chuyện như thế, thần xin kể, với điều kiện là nếu bệ hạ thấy chuyện ấy lạ lùng hơn chuyện vừa rồi thì bệ hạ tha cho tên nô lệ của thần. – Được – Hoàng đế đáp – nhưng nhà ngươi nhận một việc khó đấy, ta e nhà ngươi không cứu nổi tên nô lệ đâu, vì chuyện mấy quả táo này lạ lùng lắm.
Thế là Giafar bắt đầu kể câu chuyện của mình.”
(Đoạn từ lời kể của chàng trai “Thưa đấng Thống lĩnh các tín đồ, người thiếu phụ bị sát hại ấy là vợ tôi” đến hết được kể bổ sung sát theo bản tiếng Pháp “Les Trois Pommes” và “Histoire de la dame massacrée, et du jeune homme son mari” trong Les Mille et Une Nuits của Antoine Galland (1646–1715); văn bản đối chiếu là bản in năm 1806 trên fr.wikisource. Bản dịch đăng trước đây trên trang dừng ở lời dẫn “Chàng ta cất tiếng và kể như thế này”.)
Ý nghĩa truyện Ba quả táo
Một vụ án giữa kinh thành
Chiếc hòm vớt lên từ sông Tigre, một người phụ nữ bị sát hại, một vị tể tướng bị ép tìm hung thủ trong ba ngày: truyện có đủ yếu tố của một chuyện trinh thám. Nhiều nhà nghiên cứu coi đây là một trong những truyện kể về án mạng có điều tra sớm nhất của văn học thế giới.
Vị tể tướng không chịu đổ tội cho người vô tội
Giafar biết có thể lôi một tên tù ra xử để làm vừa lòng hoàng đế, nhưng ông thà chết chứ không làm điều trái lương tâm. Cả kinh thành khóc khi thấy ông đứng dưới giá treo cổ. Chi tiết này làm nổi bật phẩm chất của một vị quan thanh liêm giữa một bạo quyền nóng nảy.
Ghen tuông và hậu quả
Phần sau của truyện cho thấy một lời khoe khoang của kẻ xa lạ đã đủ khiến người chồng mất bình tĩnh và giết vợ. Ba quả táo nhỏ bé trở thành bằng chứng giả, nhắc người đọc rằng nghi ngờ khi chưa kiểm chứng có thể dẫn tới bi kịch không cứu vãn được.
Nguồn gốc truyện Ba quả táo
“Ba quả táo” là một truyện trong Nghìn lẻ một đêm, được Antoine Galland đưa vào bản dịch tiếng Pháp đầu thế kỷ 18. Hoàng đế Haroun Alraschid (Harun al-Rashid), tể tướng Giafar và Mesrour đều là nhân vật có thật ở triều Abbasid, kinh đô Bagdad. Như mọi truyện trong bộ sách, đây là chuyện nàng Scheherazade kể cho vua Schahriar qua nhiều đêm. Bài trên là chương 14 trong loạt truyện Nghìn lẻ một đêm của trang, không ghi người dịch. Bản dịch ấy dừng ở chỗ chàng trai bắt đầu kể; phần còn lại, từ lời thú tội của chàng trai đến lúc Giafar tìm ra tên nô lệ Rihan ngay trong nhà mình, được kể bổ sung sát theo văn bản Galland.
Đọc thêm các truyện Nghìn lẻ một đêm trên trang: Aladdin và cây đèn thần, Alibaba và 40 tên cướp, Viên tể tướng bị trừng phạt.
Câu hỏi thường gặp
Ai đã giết người phụ nữ trong chiếc hòm?
Chính chồng nàng, chàng trai đứng ra nhận tội; ông lão cũng nhận tội vì là cha nàng và muốn chết thay con rể.
Vì sao truyện có tên Ba quả táo?
Vì mọi chuyện bắt đầu từ ba quả táo người chồng vất vả mua cho vợ ốm; một quả bị gã nô lệ lấy mất, khiến người chồng tin lầm rằng vợ ngoại tình.