Âm đệm là thành phần đứng giữa âm đầu và âm chính trong một tiếng, làm cho tiếng ấy được đọc tròn môi. Âm đệm trong tiếng Việt chỉ có một âm, ghi bằng chữ o hoặc u, như trong hoa, khoe, xuân, quê. Nhờ âm đệm mà toán khác tán, hoa khác ha.
| Khái niệm | Thành phần nằm giữa âm đầu và âm chính, làm tròn môi tiếng được đọc |
| Thuộc | Phần vần của tiếng (vần = âm đệm + âm chính + âm cuối) |
| Chữ ghi | o (trước a, ă, e) hoặc u (trước â, ê, ơ, y, và luôn là u sau q) |
| Dấu hiệu nhận biết | Bỏ chữ o hoặc u đi, tiếng vẫn đọc được nhưng mất độ tròn môi: hoa → ha, xuân → xân |
| Học ở | Tiếng Việt lớp 1 (vần oa, oe, uê, uy…), ôn lại khi học cấu tạo của tiếng |

Âm đệm nằm ở đâu trong tiếng?
Theo cách mô tả quen dùng trong các giáo trình ngữ âm (mô hình của Đoàn Thiện Thuật), mỗi tiếng của tiếng Việt có tối đa năm thành phần, xếp thành hai bậc. Bậc ngoài gồm thanh điệu, âm đầu và vần. Đi sâu vào vần lại có ba phần: âm đệm, âm chính, âm cuối. Muốn ôn lại cả sơ đồ, xem bài năm thành phần làm nên một âm tiết.
Lấy tiếng nguyệt làm ví dụ:
| Âm đầu | Âm đệm | Âm chính | Âm cuối | Thanh |
|---|---|---|---|---|
| ng | u | yê | t | nặng |
Âm đệm vì thế là “cái đệm” lót giữa âm mở đầu và phần lõi của vần. Nó không bắt buộc: phần lớn các tiếng không có âm đệm, như bàn, mẹ, trường. Các nhà ngữ âm học nói tiếng Việt có hai khả năng ở vị trí này: có âm đệm (bán nguyên âm /w/) hoặc không có gì, gọi là âm đệm zero.
Về cách phát âm, âm đệm là động tác tròn môi lướt nhanh ngay trước âm chính. Trang ngonngu.net mô tả chức năng của nó là làm trầm hóa âm sắc của âm tiết: đọc toán rồi đọc tán, môi ở tiếng đầu chụm lại trước, nghe trầm và tròn hơn. Sự khác biệt nhỏ đó đủ để tách hai từ khác nghĩa, nên âm đệm là một thành phần thật sự chứ không phải chữ thừa. Ở lớp 4, khi học tiếng gồm âm đầu, vần và thanh, âm đệm được gộp vào phần vần.
Bốn bước nhận ra âm đệm
- Tìm chữ o hoặc u nằm ngay sau âm đầu. Âm đệm chỉ có thể là một trong hai chữ này. Tiếng nào không có o, u đứng ở vị trí ấy thì không có âm đệm.
- Xem sau chữ đó còn nguyên âm khác không. Trong hoa, sau o còn a, nên o chỉ là đệm, a mới là âm chính. Trong ho, o đứng một mình làm âm chính.
- Thử bỏ chữ đó đi. Khoe bỏ o còn khe, thuở bỏ u còn thở: vẫn ra một tiếng đọc được, chỉ mất độ tròn môi. Bỏ được như vậy thì đó là âm đệm.
- Cẩn thận với o, u ở cuối vần. Trong cao, khéo, sau, rêu, chữ o, u đứng cuối là âm cuối, không phải âm đệm.
Riêng chữ q thì không bao giờ đi một mình; tổ hợp qu luôn gồm âm đầu /k/ và âm đệm. Vì vậy qua, quê, quốc, quyển đều có âm đệm.
Khi nào viết o, khi nào viết u?
Cùng một âm đệm nhưng chữ quốc ngữ ghi bằng hai chữ cái, tùy âm chính đứng sau:
| Chữ ghi âm đệm | Đứng trước | Ví dụ |
|---|---|---|
| o | a, ă, e | hoa, toán, hoặc, xoăn, khoe, loè |
| u | â, ê, ơ, y (và vần uyê) | xuân, huế, thuở, thuỷ, khuya, tuyết |
| u (sau q) | mọi âm chính | qua, quăng, que, quê, quốc, quy |
Âm đệm cũng có thể đứng đầu tiếng khi tiếng không có phụ âm đầu: oa oa, oán, uể oải, uy tín. Ngược lại, nó gần như không đi sau các phụ âm môi b, m, ph, v. Những ngoại lệ hiếm hoi phần nhiều là từ mượn tiếng Pháp như xe buýt, vải voan.
Ở trường, các vần có âm đệm được dạy thành từng nhóm ngay từ lớp 1. Có thể xem bài học hai vần oa, oe trong sách Kết nối tri thức và bài vần oai, uê, uy cùng bộ sách.
Soi âm đệm trong thơ Bà Huyện Thanh Quan và Nguyễn Khuyến
Chữ hoa và tiếng chim quốc trên Đèo Ngang
Bước tới Đèo Ngang bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
Trong hai câu mở đầu Qua Đèo Ngang, chỉ có hoa mang âm đệm (h + o + a). Các tiếng còn lại như bước, bóng, xế đều không có. Đến câu sau của bài:
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
Hai tiếng quốc quốc có âm đệm vì đi sau q. Điều thú vị là chính chữ nước đứng ngay trước lại không có: ươ là âm chính, không có o hay u lót ở giữa. Bài hướng dẫn đọc hiểu Qua Đèo Ngang có phân tích kĩ nỗi nhớ nước thương nhà gửi vào tiếng chim này.
Ngõ trúc quanh co
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
Câu thơ trong Thu điếu có ba chữ u, o rất dễ gây nhầm. Quanh có âm đệm (qu + a + nh). Trúc thì u là âm chính. Teo thì o là âm cuối. Một câu bảy chữ mà gom đủ ba vai của cùng một mặt chữ. Ôn lại toàn bài ở phần soạn bài thơ câu cá mùa thu của Nguyễn Khuyến.
Chữ khéo trong Truyện Kiều
Trăm năm trong cõi người ta,
Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
Nhìn qua, khéo giống khoe vì cùng có e và o. Nhưng thứ tự đảo ngược: trong khoe, o đứng trước e nên là âm đệm; trong khéo, o đứng sau e nên là âm cuối. Hai câu thơ này, thật ra, không có tiếng nào mang âm đệm cả.
Âm đệm, âm chính và âm cuối cùng viết bằng o, u
| Vai trò của chữ o / u | Vị trí | Ví dụ | Thử bỏ đi |
|---|---|---|---|
| Âm đệm | Giữa âm đầu và âm chính | hoa, xuân, quê | Còn tiếng đọc được: ha, xân |
| Âm chính | Lõi của vần | ho, cũ, trúc | Không còn tiếng |
| Một phần nguyên âm đôi uô | Âm chính | thuốc, buồn, muốn | Đổi hẳn vần, không phải đệm |
| Âm cuối | Cuối vần | cao, khéo, rêu | Mất phần kết của vần |
Lỗi hay gặp nhất là coi u trong thuốc là âm đệm. Cần nhớ uô là một nguyên âm đôi, đọc liền một khối, như phần nguyên âm đôi ia, ua, ưa đã nói. Trong khi đó thuở mới có âm đệm thật: th + u + ơ.
Ở nhiều vùng miền Nam, âm đệm hay bị nuốt khi nói nhanh: vô duyên nghe thành “vô diên”, có nơi khỏe thành “phẻ”. Cách viết thì vẫn phải giữ đủ âm đệm.
Năm câu luyện nhận diện âm đệm
Câu 1: Tiếng nào có âm đệm: khoe, khéo, thuở, thuốc, quê, cũ, tuyết, tiêu?
Đáp án: Có âm đệm: khoe, thuở, quê, tuyết. Không có: khéo (o là âm cuối), thuốc (uô là nguyên âm đôi), cũ (u là âm chính), tiêu (u là âm cuối).
Câu 2: Điền o hoặc u vào chỗ trống: h…a hồng, mùa x…ân, kh…e mạnh, q…ê hương, th…ở bé.
Đáp án: hoa hồng, mùa xuân, khoẻ mạnh, quê hương, thuở bé. Viết o trước a, e; viết u trước â, ơ và sau q.
Câu 3: Phân tích cấu tạo của hai tiếng “quyển” và “hoạch”.
Đáp án: Quyển: âm đầu q, âm đệm u, âm chính yê, âm cuối n, thanh hỏi. Hoạch: âm đầu h, âm đệm o, âm chính a, âm cuối ch, thanh nặng.
Câu 4: Hai tiếng “toán” và “tán” khác nhau ở thành phần nào? Điều đó cho thấy gì?
Đáp án: Chỉ khác nhau ở âm đệm o. Âm đầu, âm chính, âm cuối và thanh đều giống. Điều đó cho thấy âm đệm có tác dụng phân biệt tiếng, phân biệt nghĩa.
Câu 5: Trong câu “Ngõ trúc quanh co khách vắng teo”, hãy chỉ ra vai trò của các chữ o, u.
Đáp án: Ngõ: o là âm chính. Trúc: u là âm chính. Quanh: u là âm đệm. Co: o là âm chính. Teo: o là âm cuối. Chỉ quanh có âm đệm.
Âm đệm qua mắt học sinh lớp 1 và lớp 4
Âm đệm là gì lớp 1?
Với học sinh lớp 1, có thể hiểu âm đệm là chữ o hoặc u “chen” giữa phụ âm đầu và nguyên âm chính, làm miệng tròn lại khi đọc, như trong các vần oa, oe, uê, uy. Đánh vần hoa là: hờ – oa – hoa.
Âm đệm có mấy loại?
Về âm, tiếng Việt chỉ có một âm đệm là bán nguyên âm /w/ (và trường hợp không có âm đệm). Về chữ viết, âm đệm này được ghi bằng hai chữ: o hoặc u.
Tiếng có âm đệm thì đặt dấu thanh ở đâu?
Theo nguyên tắc chung, dấu thanh đặt trên âm chính: toán, thuở, quyển. Riêng các vần oa, oe, uy còn tồn tại lối đặt dấu cũ lên chính âm đệm (hòa, khỏe, thủy) bên cạnh lối mới (hoà, khoẻ, thuỷ); cả hai đều gặp trong sách báo.
Âm đệm tiếng Anh gọi là gì?
Tài liệu ngữ âm học tiếng Anh thường gọi là medial, on-glide hoặc prevocalic /w/, tức âm lướt /w/ đứng trước nguyên âm chính.