Nguyên âm là âm mà lúc phát ra, hơi từ phổi qua thanh quản đi thẳng ra ngoài, không bị môi, răng hay lưỡi chặn lại. Trong tiếng Việt, nguyên âm là phần “lõi” của mỗi tiếng: ba, mẹ, đi đều mang một nguyên âm ở giữa. Bài này giải thích cả nguyên âm đôi là gì, nguyên âm khác phụ âm thế nào và vì sao chữ ia lúc lại viết thành iê.
| Khái niệm | Âm phát ra mà hơi không bị cản, giọng vang, có thể kéo dài |
| Nghĩa của tên gọi | “Nguyên” là gốc, “âm” là tiếng: âm làm nền cho cả tiếng nói |
| Thuộc | Ngữ âm học; học từ Tiếng Việt lớp 1 (học vần) đến các bài về vần, chính tả |
| Dấu hiệu nhận biết | Phát âm được một mình, kéo dài được; luôn đứng ở vị trí âm chính của tiếng |
| Trong chữ viết | 12 chữ cái: a, ă, â, e, ê, i, o, ô, ơ, u, ư, y |

Hiểu nguyên âm theo ngữ âm học cho dễ nhớ
Thử đặt tay lên cổ rồi đọc thật dài “aaa”. Bạn thấy cổ rung, miệng mở, hơi đi ra trơn tru. Giờ đọc “p” hay “t”: môi hoặc đầu lưỡi phải chặn hơi lại rồi mới bật ra. Khác biệt ấy chính là ranh giới giữa nguyên âm và phụ âm. Các tài liệu ngữ âm học mô tả nguyên âm là âm phát ra khi đường đi của luồng hơi không bị khép hay thu hẹp đến mức tạo ra tiếng cọ xát; phụ âm thì ngược lại, luôn có một chỗ bị cản.
Vì hơi đi tự do nên nguyên âm vang, rõ và kéo dài được. Nhờ vậy nó đảm nhận vị trí âm chính, tức hạt nhân của âm tiết. Một tiếng Việt có thể thiếu phụ âm đầu (an, ơi), thiếu âm cuối (mẹ), nhưng không thể thiếu âm chính. Đó cũng là lí do khi học vần ở lớp 1, các em làm quen với a, o, ô, ơ trước rồi mới ghép với phụ âm. Bảng 29 chữ cái và cách đọc từng chữ có trong bài cách phát âm 29 chữ cái tiếng Việt.
Cần tách hai chuyện: chữ cái và âm. Chữ quốc ngữ có 12 chữ cái ghi nguyên âm. Còn số âm thật sự thì các nhà ngữ âm học đếm hơi khác nhau tùy cách phân tích: có tài liệu ghi 11 nguyên âm đơn, có tài liệu tính cả các biến thể ngắn thành 13. Điểm mà các tài liệu cùng thống nhất là tiếng Việt có ba nguyên âm đôi.
Nguyên âm đơn và nguyên âm đôi trong tiếng Việt
Nguyên âm đơn giữ nguyên khẩu hình từ đầu đến cuối: đọc a hay u, miệng không đổi. Nguyên âm đôi thì lướt từ vị trí của âm này sang vị trí của âm kia ngay trong một âm tiết, nhưng vẫn chỉ tính là một âm chính.
| Nhóm | Cách ghi bằng chữ | Ví dụ |
|---|---|---|
| Nguyên âm đơn dài | a, e, ê, i (y), o, ô, ơ, u, ư | ca, bè, kê, đi, ló, cô, bơ, cũ, thư |
| Nguyên âm đơn ngắn | ă, â | ăn, cân (luôn có âm cuối đi kèm) |
| Nguyên âm đôi /iê/ | ia, ya, iê, yê | mía, khuya, tiên, khuyên, yêu |
| Nguyên âm đôi /uô/ | ua, uô | mua, muốn |
| Nguyên âm đôi /ươ/ | ưa, ươ | mưa, mương |
Hai chữ ă và â đặc biệt ở chỗ phát âm ngắn, nên không bao giờ đứng cuối tiếng: không có tiếng nào là “bă” hay “câ”. Còn i và y ghi cùng một âm, chỉ khác nhau theo quy ước chính tả (lí hay lý, kĩ hay kỹ đều gặp trong sách báo).
Bốn dấu hiệu nhận ra một nguyên âm
- Đọc kéo dài được. “Ooo”, “ưưư” kéo được bao lâu tùy hơi. Thử với t, b thì không được.
- Không có chỗ cản hơi. Môi không mím, lưỡi không chạm răng hay vòm miệng.
- Đứng ở vị trí âm chính. Bỏ phụ âm đầu và âm cuối của tiếng đi, phần còn lại (sau âm đệm nếu có) là nguyên âm. Trong toán: bỏ t và n, còn oa; o là âm đệm, a mới là âm chính.
- Mang dấu thanh. Dấu sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng luôn đặt trên chữ ghi nguyên âm, không bao giờ đặt trên phụ âm.
Dấu hiệu thứ ba hay làm học sinh lúng túng nhất, vì nhiều chữ nguyên âm không giữ vai trò âm chính. O trong hoa, u trong quý là âm đệm; i trong tai, o trong cao là âm cuối (các tài liệu gọi là bán nguyên âm). Nói cách khác, chữ thì là chữ nguyên âm, nhưng chức năng lúc đó đã khác.
Viết ia hay iê, ua hay uô: luật nhỏ của nguyên âm đôi
Mỗi nguyên âm đôi có hai, ba cách viết, và việc chọn cách nào phụ thuộc vào vị trí trong tiếng:
- Không có âm cuối thì viết ia, ua, ưa: chia, cua, cửa.
- Có âm cuối thì viết iê, uô, ươ: chiếc, cuốn, cướp.
- Riêng /iê/: có âm đệm đứng trước thì đổi i thành y (khuya, chuyện); đứng đầu tiếng, không có phụ âm đầu, cũng viết yê (yên, yếm).
Sách Tiếng Việt lớp 1 dạy luật này thành từng cặp, chẳng hạn bài học vần ua, ưa lớp 1 đi trước, các bài uôn, ương đến sau. Nhớ được luật thì gần như không bao giờ viết sai kiểu “miá” hay “muan”.
Âm hưởng của nguyên âm trong thơ Nguyễn Khuyến và Bà Huyện Thanh Quan
Ở môn Ngữ văn, ít khi đề hỏi thẳng “đâu là nguyên âm”, nhưng khi phân tích vần thơ thì nguyên âm làm nên màu sắc của vần. Hai bài thơ Nôm quen thuộc cho thấy điều này rõ.
Vần “eo” khép dần trong Thu điếu
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Cả bài dùng một vần eo: veo, teo, rồi vèo, teo, bèo. Vần này bắt đầu bằng nguyên âm e rồi khép lại ở âm cuối o, khiến tiếng thơ thu nhỏ, gọn lại. Nhiều người đọc cảm thấy không gian ao thu cũng nhỏ và tĩnh theo, hợp với một chiếc thuyền “bé tẻo teo”. Bài soạn Thu điếu của Nguyễn Khuyến phân tích thêm cách gieo vần này.
Vần “a” mở rộng trong Qua Đèo Ngang
Bước tới Đèo Ngang, bóng xế tà,
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa.
Ngược lại, Bà Huyện Thanh Quan gieo vần a: tà, hoa, rồi nhà, gia. A là nguyên âm mở rộng nhất, không có âm cuối chặn lại, nên tiếng thơ ngân ra, vang xa. Âm hưởng ấy hợp với khung cảnh đèo rộng lúc chiều tà và nỗi nhớ kéo dài của người lữ khách. Đọc thêm trong bài soạn Qua Đèo Ngang.
Nguyên âm và phụ âm đặt cạnh nhau
| Tiêu chí | Nguyên âm | Phụ âm |
|---|---|---|
| Luồng hơi | Đi tự do, không bị cản | Bị cản ở môi, răng, lưỡi hoặc họng |
| Âm thanh | Vang, kéo dài được | Có tiếng cọ xát hoặc tiếng bật |
| Vị trí trong tiếng | Âm chính (bắt buộc có) | Âm đầu, âm cuối (có thể vắng) |
| Ví dụ | a, ơ, u, iê | b, ch, ng, tr |
Tiếng Anh cũng chia như vậy, nhưng con số khác hẳn. Tiếng Anh dùng 5 chữ cái nguyên âm a, e, i, o, u, trong khi bảng phiên âm IPA dùng cho người học tiếng Anh tách ra 20 âm nguyên âm: 12 nguyên âm đơn và 8 nguyên âm đôi như /eɪ/ trong day. Vì thế khi ai hỏi “nguyên âm là gì”, nên hỏi lại đang nói tiếng Việt hay tiếng Anh.
Luyện tập nhận biết nguyên âm có đáp án
Câu 1: Tìm âm chính trong các tiếng: hoa, khuyên, mưa, cân.
Đáp án: hoa: âm chính a (o là âm đệm). khuyên: âm chính là nguyên âm đôi yê (u là âm đệm, n là âm cuối). mưa: nguyên âm đôi ưa. cân: nguyên âm ngắn â.
Câu 2: Điền ia hoặc iê vào chỗ trống: ch… quà, cái ch…ng, m… đường, t…ng hát.
Đáp án: chia quà, cái chiêng, mía đường, tiếng hát. Tiếng không có âm cuối viết ia; có âm cuối ng thì viết iê.
Câu 3: Vì sao không có tiếng nào là “lă” hay “bâ”?
Đáp án: Vì ă và â là nguyên âm ngắn, phải có âm cuối đi kèm (lăn, bâng). Đây là nét riêng của hai nguyên âm này so với a hay ơ.
Câu 4: Trong tiếng “cao”, chữ o là nguyên âm hay gì?
Đáp án: Chữ o vẫn là chữ ghi nguyên âm, nhưng trong cao nó đứng ở vị trí âm cuối, đóng vai bán nguyên âm. Âm chính của cao là a. Câu này cho thấy phải xét chức năng, không chỉ nhìn mặt chữ.
Những điều học sinh hay hỏi về nguyên âm
Nguyên âm đôi là gì?
Nguyên âm đôi là một âm chính mà khi đọc, khẩu hình lướt từ vị trí âm này sang âm kia. Tiếng Việt có ba nguyên âm đôi, ghi bằng ia/iê/ya/yê, ua/uô và ưa/ươ. Dù viết bằng hai chữ cái, mỗi nguyên âm đôi chỉ chiếm một vị trí âm chính trong tiếng.
Nguyên âm trong tiếng Việt gồm những chữ nào?
Có 12 chữ cái ghi nguyên âm: a, ă, â, e, ê, i, o, ô, ơ, u, ư, y. Cộng thêm các tổ hợp ghi nguyên âm đôi ở trên. 17 chữ cái còn lại trong bảng 29 chữ ghi phụ âm.
Tiếng Việt có nguyên âm ba không?
Một số tài liệu dạy đọc cho trẻ gọi uyê, ươi, oai là “nguyên âm ba” cho dễ học. Về ngữ âm học, đó là tổ hợp gồm âm đệm hoặc âm cuối ghép với nguyên âm, chẳng hạn uyê là âm đệm u cộng nguyên âm đôi yê. Khi làm bài phân tích cấu tạo tiếng, nên tách theo cách này.
Nguyên âm và phụ âm khác nhau ở điểm nào?
Khác ở luồng hơi: nguyên âm phát ra khi hơi đi tự do, còn phụ âm luôn bị cản ở một chỗ nào đó trong miệng. Từ đó kéo theo khác biệt về vị trí: nguyên âm làm âm chính, phụ âm làm âm đầu hoặc âm cuối.
Nguyên âm tiếng Anh có giống tiếng Việt không?
Khái niệm giống nhau, cách đếm thì khác. Tiếng Anh có 5 chữ cái nguyên âm nhưng tới 20 âm nguyên âm theo bảng IPA. Tiếng Việt có 12 chữ cái nguyên âm, chữ viết khá sát với cách đọc nên dễ đoán âm hơn.