Từ tượng hình là từ vẽ ra hình ảnh, dáng vẻ, trạng thái của người, vật hay cảnh, khiến người đọc như nhìn thấy đối tượng trước mắt: lom khom, lênh khênh, lấp lánh, lơ lửng. Đi cặp với nó là từ tượng thanh, loại từ mô phỏng âm thanh. Muốn biết từ tượng hình là từ gì trong một câu cụ thể, chỉ cần hỏi: từ này bắt mắt mình “thấy” hay bắt tai mình “nghe”?
| Khái niệm | Từ gợi tả hình ảnh, dáng vẻ, trạng thái của sự vật |
| Nghĩa của hai chữ | Tượng là mô phỏng, phỏng theo; hình là hình dáng |
| Thuộc | Lớp từ gợi tả, phần lớn có cấu tạo láy |
| Dấu hiệu nhận biết | Đọc lên thấy hiện ra một dáng, một độ sáng, một chuyển động |
| Học ở | Tiếng Việt tiểu học; Ngữ văn 8 Kết nối tri thức, Bài 2 (trang 42) |

Từ tượng hình là gì?
Hai chữ tượng hình vốn quen thuộc trong cụm “chữ tượng hình”, tức lối chữ vẽ lại hình con vật, cái cây. Từ tượng hình trong tiếng Việt cũng làm đúng việc ấy, chỉ khác là “vẽ” bằng âm tiết. Khi Nguyễn Khuyến viết chiếc thuyền câu bé tẻo teo, người đọc không cần số đo mà vẫn thấy con thuyền nhỏ đến mức gần như lọt thỏm giữa mặt ao.
Sách Ngữ văn 8 bộ Kết nối tri thức đưa nội dung này vào phần Thực hành tiếng Việt của Bài 2 “Vẻ đẹp cổ điển”, ngay sau văn bản Thu điếu. Theo cách sách trình bày, từ tượng hình giúp người đọc hình dung dáng dấp, trạng thái của sự vật, còn từ tượng thanh bắt chước tiếng động trong thiên nhiên và trong đời sống con người. Cả hai cùng thuộc nhóm từ có giá trị gợi tả và biểu cảm cao, nên được dùng nhiều trong văn miêu tả, tự sự và thơ.
Một điểm hay bị bỏ qua: “hình ảnh” ở đây hiểu rộng. Nó có thể là dáng người (lênh khênh, lom khom), là ánh sáng (lập lòe, lấp lánh), là kích thước (li ti, tẻo teo), là độ cao xa (chót vót, thăm thẳm), hay một kiểu chuyển động (lững thững, phất phơ).
Mùa thu của Nguyễn Khuyến: nhìn thấy cảnh qua từng từ
Chùm thơ thu là nơi dễ thấy nhất tài dùng từ tượng hình của Nguyễn Khuyến. Hai câu mở đầu Thu điếu:
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Tẻo teo tả kích thước, nhưng hơn thế, nó làm khung cảnh như rộng ra quanh con thuyền. Đọc tiếp, ta gặp lơ lửng cho tầng mây và quanh co cho ngõ trúc: một từ kéo mắt lên cao, một từ dẫn mắt đi sâu vào trong. Cảnh thu vì thế có chiều cao lẫn chiều sâu mà không cần câu chữ dài dòng. Phần trả lời câu hỏi SGK bài Thu điếu có nhắc tới cách tác giả dựng không gian bằng những chi tiết nhỏ như vậy.
Sang Thu ẩm, mở đầu cũng bằng một hình ảnh thấp, nhỏ, tối:
Năm gian nhà cỏ thấp le te,
Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe.
Le te làm mái nhà như sát xuống mặt đất. Lập lòe là thứ ánh sáng chợt có chợt tắt của đom đóm, càng làm nổi cái tối của ngõ khuya. Hai câu sau còn có phất phơ (làn khói nhạt) và lóng lánh (bóng trăng dưới ao). Bốn từ đều là từ tượng hình, mỗi từ phụ trách một nét: độ thấp, ánh chớp, độ mờ, độ long lanh. Muốn đọc thêm cách các bạn học sinh khai thác bài này, xem tuyển bài phân tích Thu ẩm của Nguyễn Khuyến.
Bốn câu tự kiểm tra trước khi gọi tên một từ tượng hình
- Từ ấy có làm hiện ra một hình ảnh cụ thể không? Lom khom thì có, ta thấy ngay một tấm lưng cong. Buồn bã thì không: đó là cảm xúc, không phải dáng vẻ.
- Bỏ từ ấy đi, câu có mất “hình” không? “Ông cụ đi trên đê” và “ông cụ đi lững thững trên đê” khác nhau ở chỗ câu sau có nhịp bước chậm rãi. Nếu bỏ đi mà câu chỉ mất thông tin, không mất hình, có thể đó chỉ là từ chỉ tính chất bình thường.
- Có đổi được bằng một cử chỉ hay nét vẽ không? Người kể chuyện có thể minh họa lênh khênh bằng tay, vẽ ngoằn ngoèo bằng một nét bút. Từ tượng thanh thì phải “nhại” lại bằng miệng.
- Có cấu tạo láy không? Phần lớn từ tượng hình là từ láy, nên đây là gợi ý tốt. Nhưng chỉ là gợi ý một chiều: không phải từ láy nào cũng tượng hình, vì xinh xắn, nhỏ nhẹ thiên về nhận xét tính chất hơn là vẽ ra một dáng cụ thể.
Kiểm tra cấu tạo xong, có thể ôn lại cách chia láy toàn bộ, láy bộ phận ở bài phân loại các kiểu từ láy, vì hai bài học này hay gộp chung trong đề.
Từ tượng thanh là gì, và khác từ tượng hình ở đâu?
Từ tượng thanh là từ mô phỏng âm thanh: tiếng mưa rào rào, tiếng suối róc rách, tiếng chim líu lo, tiếng cười khanh khách. Nó là cái tai của câu văn, còn từ tượng hình là con mắt.
| Tiêu chí | Từ tượng hình | Từ tượng thanh |
|---|---|---|
| Gợi ra | Hình dáng, ánh sáng, kích thước, trạng thái, chuyển động | Tiếng động của thiên nhiên, loài vật, con người, đồ vật |
| Giác quan chính | Thị giác | Thính giác |
| Ví dụ | lênh khênh, lấp lánh, lơ thơ, li ti, ngoằn ngoèo | ầm ầm, tí tách, lộp độp, ríu rít, thình thịch |
| Cách thử nhanh | Vẽ ra hoặc diễn tả bằng cử chỉ được | Nhại lại bằng miệng được |
Hai loại từ giống nhau ở chỗ đều giàu sức gợi, phần lớn mang cấu tạo láy. Cũng vì gần nhau nên có những từ đứng ở ranh giới. Lao xao thường được xếp vào từ tượng thanh vì gợi tiếng gió, tiếng người, nhưng trong câu “hàng tre lao xao” người đọc có khi thấy cả ngọn tre đung đưa. Gặp trường hợp này, cách an toàn là dựa vào ngữ cảnh: câu đang tả cái nghe hay cái nhìn là chính, và nêu rõ lí do khi trả lời.
Cả hai loại từ đều là chất liệu của các phép tu từ như nhân hóa, so sánh; bảng tổng hợp ở bài các phép tu từ thường gặp trong đề đọc hiểu giúp đặt chúng vào đúng chỗ khi nêu tác dụng.
Năm câu luyện nhận diện từ tượng hình, có đáp án
Câu 1: Tìm từ tượng hình trong câu thơ “Năm gian nhà cỏ thấp le te, / Ngõ tối đêm sâu đóm lập lòe” và nêu tác dụng.
Đáp án: Hai từ tượng hình là le te và lập lòe. Le te gợi những gian nhà tranh thấp, nhỏ, nghèo của làng quê. Lập lòe gợi ánh đom đóm lúc sáng lúc tắt, qua đó làm nổi bật bóng tối và sự tĩnh lặng của đêm khuya.
Câu 2: Xếp các từ sau vào hai nhóm tượng hình và tượng thanh: lom khom, róc rách, lấp lánh, ầm ầm, chót vót, lộp độp, thướt tha, khúc khích.
Đáp án: Tượng hình: lom khom, lấp lánh, chót vót, thướt tha. Tượng thanh: róc rách, ầm ầm, lộp độp, khúc khích. Mẹo làm nhanh: từ nào đọc lên mà “nhại” được bằng miệng thì xếp sang tượng thanh.
Câu 3: Phân biệt sắc thái của “lênh khênh”, “lêu nghêu” và “lòng khòng” khi tả một người cao.
Đáp án tham khảo: Cả ba đều tả dáng cao gầy. Lênh khênh gợi vẻ cao mà chông chênh, như đứng không vững. Lêu nghêu nhấn vào cái cao quá khổ, hơi vụng về. Lòng khòng thêm nét lỏng lẻo, tay chân dài thượt. Chọn từ nào tùy vào ấn tượng người viết muốn để lại.
Câu 4: Câu “Mấy chú gà con chạy lon ton theo mẹ, kêu chiếp chiếp” có mấy từ tượng hình, mấy từ tượng thanh?
Đáp án: Một từ tượng hình là lon ton (dáng chạy nhanh, bước ngắn của con vật nhỏ) và một từ tượng thanh là chiếp chiếp (tiếng kêu của gà con). Câu văn có cả hình lẫn tiếng nên cảnh sân nhà hiện ra sinh động.
Câu 5: Viết đoạn văn 4–5 câu tả buổi chợ sớm, dùng ít nhất hai từ tượng hình và một từ tượng thanh.
Đáp án tham khảo: “Trời còn mờ sương, những gánh hàng đã lũ lượt kéo về đầu chợ. Bà cụ bán rau ngồi co ro bên chiếc thúng, tay vẫn nhanh nhẹn bó từng mớ cải. Tiếng mặc cả lao xao khắp lối đi. Đến lúc mặt trời lên, mái tôn lấp loáng nắng và chợ đông hẳn.” Các từ tượng hình: lũ lượt, co ro, lấp loáng; từ tượng thanh: lao xao.
Từ tượng hình qua mấy câu học sinh hay đặt ra
Từ tượng hình là từ gì xét về cấu tạo?
Phần lớn là từ láy, như lom khom, lấp lánh, ngoằn ngoèo. Tuy vậy, “tượng hình” là cách gọi theo chức năng gợi tả, còn “từ láy” là cách gọi theo cấu tạo, nên hai khái niệm không trùng khít nhau.
Từ tượng thanh là gì, có phải chỉ tả tiếng động vật?
Không. Từ tượng thanh mô phỏng mọi loại âm thanh: tiếng mưa, tiếng gió, tiếng xe, tiếng người cười nói, tiếng đồ vật va nhau. Tiếng loài vật chỉ là một phần, như ò ó o, meo meo.
Tác dụng của từ tượng hình khi làm bài đọc hiểu nên viết thế nào?
Nên nói đủ hai ý: từ ấy gợi ra hình ảnh gì cụ thể, và hình ảnh đó giúp thể hiện điều gì (vẻ đẹp cảnh vật, tâm trạng nhân vật, thái độ tác giả). Chỉ ghi “làm câu văn sinh động” thì thường bị trừ điểm vì quá chung.
Một từ có thể vừa tượng hình vừa tượng thanh không?
Có một số từ ở ranh giới, nghĩa nghiêng về bên nào tùy câu. Khi làm bài, hãy xác định câu đang tả cái nhìn hay cái nghe là chính, rồi giải thích ngắn lí do chọn.