Trước Công nguyên là khoảng thời gian trước năm 1 của Công lịch, viết tắt là TCN. Năm TCN được đếm lùi: số càng lớn thì càng xa về quá khứ, nên năm 500 TCN cũ hơn năm 200 TCN. Tiếng Anh gọi là BC hoặc BCE; ai hỏi “TCN là gì” trong sách sử lớp 6 thì đó chính là câu trả lời.
| Nghĩa ngắn | Thời gian trước mốc năm 1 của Công lịch, đếm ngược về quá khứ |
| Viết tắt | TCN, có sách ghi tr.CN; tiếng Anh BC (Before Christ) hoặc BCE (Before Common Era) |
| Gốc từ | Hán Việt 公元: công (chung) + nguyên (khởi đầu); thêm chữ “trước” |
| Đối lại | Công nguyên (CN), tiếng Anh AD hoặc CE |

Trước Công nguyên là trước mốc nào?
Từ điển tiếng Việt giảng Công nguyên (viết tắt CN) là mốc để tính thời gian theo công lịch, lấy năm Chúa Jesus ra đời theo truyền thuyết làm năm bắt đầu. Hiểu được mốc ấy thì “trước Công nguyên” tự rõ: mọi năm nằm phía trước năm 1 đó.
Có thể hình dung trục thời gian như một cây thước. Năm 1 CN nằm ở giữa. Đi về bên phải là 2, 3, 4… cho tới năm nay. Đi về bên trái là 1 TCN, 2 TCN, 3 TCN… càng lúc càng xa. Vì vậy với năm TCN, số lớn là năm cũ hơn, ngược hẳn thói quen đọc số thường ngày.
Ở Việt Nam, Công lịch còn được gọi là Dương lịch, để phân biệt với Âm lịch dùng tính ngày Tết, ngày giỗ. Muốn quy đổi giữa hai cách tính cho năm sinh, có thể xem bài tính tuổi theo âm lịch và dương lịch.
Ai đặt ra cách tính năm này
Hệ đánh số năm Công nguyên do một tu sĩ tên Dionysius Exiguus đề xuất vào năm 525, khi ông tính lịch cho ngày lễ Phục Sinh. Ông chọn năm mà theo cách tính của ông là năm Chúa Jesus ra đời làm năm 1. Cách đếm này phải mấy thế kỉ sau mới phổ biến ở châu Âu; còn cách đếm lùi cho các năm trước mốc ấy thì càng về sau mới thành nếp.
Các nhà nghiên cứu Kinh Thánh nay phần đông cho rằng phép tính của Dionysius bị lệch vài năm. Điều đó không làm hệ lịch đổi đi: mốc năm 1 vẫn giữ nguyên, chỉ là ý nghĩa tôn giáo của nó không còn khớp hoàn toàn với lịch sử.
Cũng vì gốc tôn giáo ấy, giới học thuật quốc tế dùng song song cặp tên trung tính CE (Common Era, Kỷ nguyên chung) và BCE (Before Common Era). Số năm vẫn y hệt AD và BC; chỉ đổi tên gọi. Chữ “Công nguyên” của tiếng Việt, hiểu theo chữ Hán là “năm đầu chung”, gần với cách gọi trung tính này.
TCN, CN, AD, BC và chữ “sau Công nguyên”
| Cách ghi | Nghĩa | Ví dụ |
|---|---|---|
| TCN / tr.CN | Trước Công nguyên | Năm 179 TCN |
| CN | Công nguyên, thường chỉ ghi khi cần nhấn mạnh hoặc với năm nhỏ | Năm 40 (CN) |
| BC / BCE | Tiếng Anh, đặt sau số năm | 179 BC |
| AD / CE | Tiếng Anh; AD truyền thống đặt trước số năm, CE đặt sau | AD 40, 40 CE |
| “Sau Công nguyên” | Cách nói quen miệng, thực chất là năm Công nguyên | “Năm 40 sau Công nguyên” = năm 40 |
Cách nói “sau Công nguyên” rất phổ biến, nhưng xét kĩ thì Công nguyên là cả kỉ nguyên chúng ta đang sống, chứ không phải một điểm đã qua. Viết “năm 40” là đủ; chỉ khi đặt cạnh năm TCN cho dễ so sánh mới cần thêm “CN”.
Chữ CN đứng một mình còn có thể là Chủ nhật hay công nghệ, nên chữ viết tắt CN phải nhìn vào cả câu mới đoán đúng.
Đọc niên đại TCN cho khỏi nhầm
Ba quy tắc nhỏ giúp học sinh làm bài tập lịch sử trơn tru:
- Không có năm 0. Năm 1 TCN liền kề năm 1 CN. Vì thế muốn tính khoảng cách giữa một năm TCN và một năm CN thì cộng hai số rồi trừ 1.
- Thế kỉ TCN cũng đếm ngược. Thế kỉ I TCN gồm các năm từ 100 đến 1 TCN; thế kỉ II TCN từ 200 đến 101 TCN. Thiên niên kỉ I TCN là từ năm 1000 đến năm 1 TCN.
- Giữa hai năm TCN thì lấy số lớn trừ số nhỏ. Năm lớn hơn là năm xảy ra trước.
Thử với hai mốc quen thuộc trong sách Lịch sử 6. Năm 179 TCN, Triệu Đà chiếm Âu Lạc, mở đầu thời kì Bắc thuộc. Năm 111 TCN, nhà Hán đánh chiếm và chia lại các quận. Từ 179 TCN đến 111 TCN là 179 − 111 = 68 năm. Còn từ 179 TCN tới cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng năm 40 thì là 179 + 40 − 1 = 218 năm, vì không có năm 0 nằm giữa.
Những câu chuyện về thời dựng nước như Thánh Gióng, Sơn Tinh – Thủy Tinh thường được gắn với các đời vua Hùng, xa hơn cả các mốc ấy nhưng không mang niên đại cụ thể; đặc điểm của thể loại này có trong bài giải nghĩa truyện truyền thuyết thời dựng nước. Còn chuyện vì sao ta cần đếm năm và ghi chép quá khứ thì nằm trong bài lịch sử là gì.
Thắc mắc quanh năm TCN và Công lịch
TCN là gì?
TCN là chữ viết tắt của “trước Công nguyên”, dùng sau số năm, ví dụ 179 TCN. Một số sách cũ viết tr.CN; nghĩa không khác.
Trước Công nguyên tiếng Anh là gì?
Là BC (Before Christ, trước Chúa ra đời) hoặc BCE (Before Common Era, trước Kỷ nguyên chung). Hai cách ghi có cùng số năm, BCE được dùng nhiều trong sách khoa học vì trung tính về tôn giáo.
Năm 1 TCN và năm 1 CN cách nhau bao lâu?
Chỉ một năm, vì hai năm này đứng liền nhau và không có năm 0. Hết ngày cuối cùng của năm 1 TCN là sang ngày đầu tiên của năm 1 CN.
Thế kỉ I TCN gồm những năm nào?
Gồm các năm từ 100 TCN đến 1 TCN. Năm 100 TCN là năm đầu thế kỉ, năm 1 TCN là năm cuối, trước khi bước sang thế kỉ I Công nguyên.