Bài thơ tự do Tình sông núi do Trần Mai Ninh sáng tác được học ở Bài 9 Đi và suy ngẫm, sách Ngữ văn 9 Kết nối tri thức tập hai (văn bản đọc thứ ba, trang 102 – 104). Bài viết tập hợp những gì em cần nắm về tác phẩm: toàn văn bài thơ, cuộc đời và sự nghiệp của tác giả, xuất xứ, thể thơ, cách chia đoạn, những điểm đặc sắc về nội dung và nghệ thuật, ý nghĩa nhan đề và sơ đồ tư duy để ôn tập nhanh.
Nội dung văn bản Tình sông núi
Trần Mai Ninh mất từ cuối thập niên 1940 nên tác phẩm của ông đã thuộc phạm vi công chúng; dưới đây là toàn văn bài thơ theo bản in trong SGK. Để dễ theo dõi bố cục, bài được tách thành ba đoạn.

Trăng nghiêng trên sông Trà Khúc …
Mây lồng và nước reo
Nắng bột chen dừa Tam Quan
Gió buồn uốn éo
Bồng Sơn dìu dịu như bài thơ
Mờ soi Bình Định trăng mờ
Phú Phong rộng
Phù Cát lì
An Khê cao vun vút,
Gió lạnh – rừng buồn,
Mượn ai kín hộ nước nguồn về đây
Gặp sông Cầu khó rời tay!
Sông Cầu của đất, nước này là duyên.
Vũng Lấm dăm lá thuyền;
Nhiều dừa che ít mái tranh
Vừa đẹp – vừa lành,
Hỏi ai tới đó sao đành lòng đi?
Tuy Hoà ngay dọc ngõ
Dậy sáng, – dịu màu tươi
Nha Trang cười
Nha Trang đẹp
Diên Khánh xanh um.
… Tôi lim dim cặp mắt
Không thấy nơi nào không đẹp
Không giàu
Lúa xanh như biển rộng
Mì vươn cao khắp các sườn đèo
Rẫy đè lên rẫy
Bắp và khoai tiếp bắp và khoai …
Mấy sông là mấy vạn chài
Ngựa xe rào rạt đổ người sang ngang
Gầu nước gieo vàng
Tiếng thoi nghe dội rộn ràng vách nghiêng
Dân tộc rớt mồ hôi thấm đất
Bắp căng như đồng
Tay ghì cán cuốc
Tay ghì tay xe
Nhìn quanh là cả bốn bề cần lao …
Có mối tình nào hơn thế nữa?
Ăn sâu lòng đất, thấm lòng người
Đượm lều tranh, thơm dậy ngàn khơi
Khi vui non nước cùng cười
Khi căm non nước với người đứng lên!
Có mối tình nào hơn thế nữa,
Nói bằng súng, bằng gươm sáng rền
Có mối tình nào hơn thế nữa
Trộn hoà lao động với giang sơn
Có mối tình nào hơn
Tổ quốc?
Thông tin tác giả Trần Mai Ninh
Trần Mai Ninh (1917 – 1947; có tài liệu ghi năm mất 1948) tên khai sinh là Nguyễn Thường Khanh. Theo SGK, quê gốc của ông ở Hà Nội, còn tuổi thơ gắn với Thanh Hóa; một số tài liệu khác ghi ông sinh tại Thanh Hóa và mất năm 1947. Ông học bậc Thành chung ở Thanh Hóa rồi ra Hà Nội học tiếp. Ngay từ thời đi học, ông đã cùng bạn bè làm tờ báo Con sáo, lên tiếng chê trách lối giáo dục thời thuộc địa.
Trong thời kì Mặt trận Dân chủ những năm 1936 – 1939, Trần Mai Ninh là cây bút xông xáo của nhiều tờ báo tiến bộ như Bạn dân, Thời thế, Tin tức, Người mới; ông vừa viết bài, làm phóng viên, vừa vẽ tranh minh họa và trình bày báo. Từng bị chính quyền thực dân bắt giam, ông vượt ngục, rồi góp sức giành chính quyền ở Nam Trung Bộ khi Cách mạng tháng Tám nổ ra. Những năm đầu kháng chiến chống Pháp, ông hoạt động trên các địa bàn Quảng Ngãi, Phú Yên và Khánh Hòa, rồi hi sinh khi bị giặc bắt, lúc mới ngoài ba mươi tuổi.
Về sáng tác, ông để lại truyện vừa Thằng Tuất (1939), truyện dài Ngơ ngác (1941), tiểu luận Sống đã rồi viết văn (1944) và một số bài thơ, sau này được tập hợp trong cuốn Thơ văn Trần Mai Ninh in năm 1980. Bài thơ được nhắc đến nhiều nhất của ông là Nhớ máu.
Thơ Trần Mai Ninh thời kì đầu kháng chiến là thơ tự do mang nhiều tìm tòi mới mẻ về hình thức: nhịp mạnh, câu dài ngắn bất ngờ, cảm xúc sôi nổi, đầy khí thế chiến đấu và niềm tin vào cách mạng, vào tương lai đất nước. Hội Nhà báo tỉnh Thanh Hóa đã lấy tên ông đặt cho giải báo chí của hội để ghi nhớ một nhà báo – nhà thơ – chiến sĩ.
Thông tin tác phẩm Tình sông núi
Các mục dưới đây được sắp theo những câu hỏi học sinh hay tìm khi chuẩn bị bài.
Tình sông núi được in ở đâu?
Văn bản trong SGK được lấy từ tuyển tập Thơ Việt Nam 1945 – 1975, do Nhà xuất bản Tác phẩm mới (Hà Nội) ấn hành năm 1976, ở các trang 264 – 265. Trên trang thơ của Trần Mai Ninh, bài thơ còn được ghi nhận có mặt trong tuyển tập Thơ Việt Nam 1945 – 1985.
Hoàn cảnh sáng tác bài thơ Tình sông núi
SGK và các tài liệu tham khảo phổ biến không ghi năm sáng tác cụ thể. Tuy vậy, các địa danh trong bài – từ sông Trà Khúc qua Bình Định, An Khê, Phú Yên đến Nha Trang, Diên Khánh – đều thuộc vùng Nam Trung Bộ, nơi Trần Mai Ninh tham gia giành chính quyền năm 1945 và hoạt động trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp. Câu thơ nhắc đến cảnh nhân dân “Nói bằng súng, bằng gươm sáng rền” cũng cho thấy bài thơ ra đời trong không khí cả dân tộc đứng lên giữ nước.
Tình sông núi thuộc thể thơ gì?
- Thể thơ: thơ tự do – số chữ mỗi dòng không cố định (có dòng chỉ một, hai chữ như “Không giàu”, “Tổ quốc?”), vần gieo linh hoạt, xen vào một số cặp câu mang dáng lục bát.
- Phương thức biểu đạt chính: biểu cảm, có kết hợp miêu tả.
- Nhân vật trữ tình: xưng “tôi”, là người đi qua từng miền đất, quan sát rồi chiêm nghiệm về đất nước và nhân dân.
Bố cục: Tình sông núi có mấy phần?
Bài thơ có thể chia làm 3 phần:
- Phần 1 (từ đầu đến “Diên Khánh xanh um.”): vẻ đẹp của các miền đất Nam Trung Bộ và niềm hân hoan, quyến luyến của nhà thơ.
- Phần 2 (từ “Tôi lim dim cặp mắt” đến “Tiếng thoi nghe dội rộn ràng vách nghiêng”): cảm xúc lắng lại trước cảnh sống thanh bình, no đủ do bàn tay người lao động tạo ra.
- Phần 3 (các dòng cuối): nhà thơ nghĩ về nhân dân cần lao và đi tới lời khẳng định không mối tình nào lớn hơn tình yêu Tổ quốc.
Một số tài liệu gộp phần 2 và phần 3 làm một, chia bài thơ thành 2 phần (cảnh sắc các địa danh – tình yêu đất nước gắn với người lao động). Cả hai cách đều hợp lí nếu em nêu rõ ranh giới và nội dung từng phần.
Giá trị nội dung
- Vẽ nên bức tranh sông núi miền Trung vừa thơ mộng vừa hùng vĩ, mỗi địa danh mang một dáng vẻ riêng.
- Phát hiện vẻ giàu đẹp của đất nước luôn đi liền với lao động: đồng lúa, nương mì, rẫy bắp, sông chài, khung cửi đều là thành quả của bàn tay con người.
- Đặt nhân dân cần lao vào trung tâm hình tượng đất nước, bày tỏ lòng biết ơn những con người đã đổ mồ hôi gây dựng và sẵn sàng cầm vũ khí giữ gìn quê hương.
- Coi tình yêu Tổ quốc là thứ tình cảm thiêng liêng, bao trùm, được hun đúc từ tình yêu từng miền đất cụ thể.
Giá trị nghệ thuật
- Thể thơ tự do với nhịp điệu biến hóa: những dòng ba chữ ngắn gọn (“Phú Phong rộng”, “Nha Trang đẹp”) xen với dòng dài, tạo cảm giác như bước chân đi đường, khi náo nức khi trầm lắng.
- Hệ thống động từ dày đặc (reo, chen, vươn, đè, gieo, dội, rớt, ghì, trộn hoà…) khiến cảnh và người luôn ở trạng thái vận động.
- Kết hợp miêu tả cụ thể với những mệnh đề khái quát như “Không thấy nơi nào không đẹp”, “Trộn hoà lao động với giang sơn”.
- Câu hỏi tu từ và điệp khúc “Có mối tình nào hơn thế nữa” tạo âm hưởng hào sảng, đẩy cảm xúc lên cao trào ở dòng kết “Tổ quốc?”.
- Phép liệt kê địa danh, so sánh (“Lúa xanh như biển rộng”, “Bắp căng như đồng”), lối chơi chữ đất – nước trong câu “Sông Cầu của đất, nước này là duyên.”
Ý nghĩa nhan đề Tình sông núi
“Sông núi” là hình ảnh hoán dụ quen thuộc chỉ đất nước, giang sơn; “tình” là sự gắn bó máu thịt. Nhan đề vừa gọi đúng đối tượng của bài thơ (những dòng sông, ngọn núi, miền quê có thật), vừa nêu chủ đề: tình yêu đất nước. Đến cuối bài, chữ “tình” ấy được nhà thơ đo bằng câu hỏi lặp lại nhiều lần và trả lời bằng hai chữ “Tổ quốc”, khiến nhan đề trở thành lời khẳng định trọn vẹn.
Sơ đồ tư duy Tình sông núi
Sơ đồ dưới đây tóm tắt sáu nội dung chính cần nhớ khi ôn bài.

Lời kết
Khi ôn tập Tình sông núi, em cần nhớ: tác giả Trần Mai Ninh (1917 – 1947; có tài liệu ghi năm mất 1948), nhà thơ – chiến sĩ; bài thơ tự do rút từ tuyển tập Thơ Việt Nam 1945 – 1975; bố cục ba phần đi từ cảnh sắc từng miền đất đến cuộc sống lao động rồi tới suy ngẫm về Tổ quốc; nét đặc sắc nằm ở nhịp điệu linh hoạt, động từ mạnh, sự phối hợp giữa tả cụ thể với khái quát và điệp khúc câu hỏi tu từ. Các văn bản khác của sách em có thể tìm tại mục Ngữ văn 9 Kết nối tri thức.