Tản mạn là tính từ chỉ trạng thái dàn trải, rời rạc, các phần không liên hệ với nhau và không xoáy vào một điểm, như suy nghĩ tản mạn hay bài trình bày còn tản mạn. Ở nghĩa ít dùng hơn, tản mạn gần với tản mát: đồ đạc, giấy tờ để rải ra mỗi nơi một ít. Đứng đầu nhan đề báo chí, chữ này mềm hơn: nó báo trước một lối viết thả ý.
| Nghĩa ngắn | Rời rạc, dàn trải, không tập trung vào một vấn đề |
| Gốc từ | Hán Việt, chữ 散漫 (tản: tan ra; mạn: tràn lan) |
| Loại từ | Tính từ |
| Sắc thái | Lời chê khi nói về bài làm, cách trình bày; nhẹ nhàng, khiêm nhường khi đứng đầu nhan đề “Tản mạn về…” |

Ý nghĩ tản mạn trông ra sao?
Hình dung một buổi tối ngồi trước trang giấy trắng: vừa nghĩ đến bài kiểm tra ngày mai, đã nhớ sang bữa cơm trưa, rồi lại lan qua một bài hát cũ. Không ý nào sai, nhưng chúng không nối vào nhau và cũng chẳng dẫn tới đâu. Trạng thái ấy là tản mạn.
Các từ điển tiếng Việt thông dụng ghi nhận hai nét nghĩa:
- Nghĩa chính: dàn trải, rời rạc, thiếu sự liên kết và không dồn vào một vấn đề. Nét nghĩa này hay đi với ý nghĩ, suy nghĩ, cách trình bày, bố cục, lời kể. Ví dụ: Phần thân bài còn tản mạn, mỗi đoạn nói một chuyện.
- Nghĩa ít dùng: giống tản mát, tức vật bị để rải rác nhiều chỗ. Ví dụ: Hồ sơ cũ của xã để tản mạn ở ba kho, tìm mất cả buổi.
Trong lời nói hằng ngày, nghĩa thứ nhất chiếm gần hết. Người ta bảo “nói chuyện tản mạn” khi câu chuyện cứ trôi từ đề tài này sang đề tài khác, không ai định trước sẽ bàn gì.
Khi chữ ấy đứng đầu một nhan đề
Lật một tờ báo văn nghệ hay mở mục blog của các trang văn chương, dễ gặp những tiêu đề kiểu “Tản mạn về mùa thu Hà Nội”, “Tản mạn chuyện ăn Tết”. Ở đây chữ tản mạn không còn là lời chê. Người viết dùng nó như một lời rào trước: bài này không định chứng minh điều gì, chỉ đi theo những gì nhớ ra, nghĩ tới. Trên Văn VN cũng có một bài như thế, bài viết thả ý về thơ Đường luật ở Việt Nam.
Vậy viết tản mạn là gì? Là chọn bố cục lỏng, cho phép chuyện nọ dẫn sang chuyện kia, giọng gần với lời trò chuyện. Lối viết này thường thấy ở những bài văn xuôi ngắn mà nhà nghiên cứu xếp vào thể tản văn và đặc điểm của nó, hoặc ở những trang gần với lối tùy bút ghi lại cảm xúc theo dòng nghĩ. Tuy nhiên, tản mạn không phải tên một thể loại trong sách Ngữ văn; nó chỉ là cách người viết tự gọi bài của mình.
Điều thú vị là bài “tản mạn” hay vẫn có một sợi chỉ ngầm: một nỗi nhớ, một câu hỏi, một hình ảnh trở đi trở lại. Không có sợi chỉ ấy, bài sẽ tản mạn theo đúng nghĩa xấu của từ.
Đứng cạnh lan man, tản mát và mạch lạc
| Từ | Quan hệ với tản mạn | Dùng khi |
|---|---|---|
| rời rạc | Gần nghĩa | Các phần đứt quãng, không nối với nhau |
| lan man | Gần nghĩa, dễ lẫn | Nói, viết dài dòng, càng lúc càng xa ý chính |
| dàn trải | Gần nghĩa | Bài dài đều nhau, không có chỗ nhấn |
| tản mát | Gần nghĩa thứ hai | Người, vật bị phân tán mỗi nơi một ít |
| tập trung, mạch lạc, chặt chẽ | Trái nghĩa | Ý nối ý, cùng hướng về một điểm |
Chỗ khác giữa tản mạn và lan man khá tinh: lan man là kéo dài, nói mãi chưa dứt, còn tản mạn là phân tán, mỗi ý một ngả. Một bài văn có thể ngắn mà vẫn tản mạn, vì năm câu bàn năm chuyện. Ngược lại, một lời kể có thể chỉ xoay quanh một chuyện mà vẫn lan man, vì cứ kể đi kể lại.
Cũng cần tách tản mạn với tản văn. Hai từ chung chữ 散, nhưng một bên là tính từ chỉ trạng thái, một bên là tên thể loại văn xuôi.
Chữ 散 gặp chữ 漫
Tách ra từng chữ, nghĩa của từ hiện lên khá rõ. Tản (散) là tan ra, rời ra, có mặt trong giải tán, phân tán, tản cư. Mạn (漫) có nghĩa gốc là nước tràn khắp, rồi mở ra nghĩa buông thả, không bờ bến, như trong lãng mạn, mạn đàm (nói chuyện thong thả, không theo trình tự). Hai chữ ghép lại vẽ đúng hình ảnh những ý nghĩ trôi tản ra mọi phía.
Trong tiếng Trung, 散漫 ngoài nghĩa “rải rác” còn hay dùng để chê người lỏng lẻo kỉ luật; tiếng Nhật đọc là sanman, chỉ sự lơ đãng, thiếu phương pháp. Tiếng Việt giữ phần nghĩa về sự phân tán của ý và của vật, còn khi muốn chê ai làm việc thiếu nề nếp thì ta nói lề mề, tùy tiện chứ ít ai bảo “anh ấy tản mạn”.
Một nhầm lẫn hay gặp khi gõ vội là viết “tảng mạn”. Chữ đúng là tản không có g, cùng chữ với tản cư, tản bộ.
Lời phê “ý còn tản mạn” ở cuối bài kiểm tra và dòng chữ “Tản mạn về một góc phố” trên trang báo dùng cùng một từ. Lời phê ấy là lời nhắc gom ý lại. Còn dòng chữ trên trang báo là lời mời người đọc đi chậm theo người viết.
Tản mạn trong lời phê và trên trang báo
Tản mạn là thể loại gì?
Tản mạn không phải tên thể loại. Những bài đặt nhan đề “Tản mạn về…” thường được xếp vào tản văn, tạp bút hoặc gần với tùy bút, tùy cách viết của từng bài. Chữ tản mạn ở nhan đề chỉ báo trước giọng văn thả ý, không theo dàn bài chặt.
Viết tản mạn là gì, có giống viết lan man không?
Viết tản mạn là để các ý nối nhau theo liên tưởng thay vì theo dàn ý. Lan man thì là kéo dài, nói vòng quanh mà không tới ý chính. Bài tản mạn có chủ đích vẫn cần một mạch cảm xúc chung; mất mạch ấy, nó mới thành lan man.
Suy nghĩ tản mạn là gì, có đáng lo không?
Suy nghĩ tản mạn là khi đầu óc trôi từ chuyện này sang chuyện khác, không giữ được một mạch. Ai cũng có lúc như vậy, nhất là khi mệt hoặc đang thư giãn. Lúc cần học hay làm việc, ghi ra giấy một việc chính trước khi bắt đầu thường giúp gom ý lại.
Từ trái nghĩa với tản mạn là gì?
Các từ trái nghĩa dùng được là tập trung, mạch lạc, chặt chẽ, súc tích. Khi nhận xét bài văn, thầy cô hay đặt cặp “tản mạn” đối lại với “mạch lạc”.