Hội lồng tồng là văn bản thông tin của nhóm tác giả Trần Quốc Vượng, Lê Văn Hảo, Dương Tất Từ, trích từ cuốn Mùa xuân và phong tục Việt Nam. Văn bản được học ở Bài 5 (Màu sắc trăm miền), sách Ngữ văn 7 Kết nối tri thức tập một. Bài viết dưới đây tóm lược nội dung văn bản, giới thiệu nhóm tác giả, xuất xứ, thể loại, bố cục, giá trị nội dung – nghệ thuật và sơ đồ tư duy.
Nội dung văn bản Hội lồng tồng
Văn bản còn trong thời hạn bảo hộ bản quyền, nên Văn VN chỉ lược thuật ý chính và trích vài câu ngắn. Lời giải các câu hỏi đọc hiểu, em xem bài soạn bài Hội lồng tồng.

Thời gian, ý nghĩa tên gọi và vị thần được thờ. Đồng bào vùng Việt Bắc mở hội lồng tồng trong khoảng thời gian từ sau tết Nguyên đán tới tết Thanh minh. Theo tiếng Tày – Nùng, lồng tồng có nghĩa là “xuống đồng”. “Thần thành hoàng của đồng bào Tày – Nùng cũng tức là thần nông.” Đình thờ những người có công mở mang ruộng nương, giữ gìn bản mường; mỗi nơi lại lưu truyền những truyền thuyết riêng về lễ hội.
Phần lễ. Hội vừa để cầu được mùa vừa để mừng xuân: bà con sắm cỗ dâng thần nông, đồng thời bày ra những nông sản tốt nhất của mình như gà thiến, lợn quay, các loại bánh, trái cây, sắp xếp thật bắt mắt. Cúng xong, mọi người cùng ăn cỗ, có bánh chưng, bánh lá ngải, xôi nhuộm màu lá cẩm, rượu nếp, rượu mác mật.
Phần hội. Trong hội có vật, kéo co, bắn, đua thuyền, múa võ dân tộc…, nhưng cuốn hút hơn cả là ba hoạt động:
- Tung còn (ném còn): quả còn là túi vải vuông nhồi cát, có đuôi vải nhiều màu. Giữa đồng dựng một cây mai cao, ngọn uốn thành vòng tròn dán giấy, có hồng tâm. Trai gái chia hai phe, phải bắt được còn của bên kia ném sang mới được ném; ai ném thủng vòng giấy được thưởng, trúng hồng tâm thì thưởng lớn hơn.
- Múa sư tử: về bản chất là một màn biểu diễn võ thuật, được thanh niên Tày – Nùng ưa chuộng vì hợp với tinh thần thượng võ, giúp rèn sức khỏe và võ nghệ để tự vệ. Đặc sắc nhất là cảnh đười ươi, khỉ trêu chọc sư tử và né đòn khéo léo. Theo lệ, con sư tử đến trước làm đàn anh; con đến sau phải đeo “quả hồng” – mảnh vải màu đỏ – lên cằm con đến trước để nhận phận em; nếu tranh chấp thì hai bên đấu võ phân thắng thua.
- Hát lượn lồng tồng: trai gái họp thành từng đám hát đối đáp, cầu mùa, chúc nhau may mắn, ca ngợi thiên nhiên, mùa xuân, tình yêu và lao động. Buổi hát mở đầu bằng lời chào xuân, rồi đến những câu chúc mùa màng, chẳng hạn: “Năm mới tới mùa màng sung túc / Không một người khổ cực gian nan”. Cuộc hát có hai phần: “lượn tuồng” là những bài hát cổ phải thuộc lòng, kể về cảnh đẹp quê hương, chuyện cổ tích, cảnh làm ăn bốn mùa; tiếp đó là “lượn sương”, sáng tác tại chỗ để trai gái trực tiếp bày tỏ tình cảm.
Ý nghĩa của hội. Theo các tác giả, mùa xuân thuộc về tuổi trẻ, gắn với tình yêu và lời ca. Ở nhiều nơi, các cuộc hát lượn kéo dài bốn, năm đêm liền. Tiếng lượn trong sáng, tràn đầy sức sống trở thành tiếng nói của tình yêu và của ngày hội xuân Việt Bắc.
Thông tin nhóm tác giả Hội lồng tồng
Văn bản là phần viết chung của ba nhà nghiên cứu, in trong cuốn Mùa xuân và phong tục Việt Nam (xuất bản lần đầu năm 1976 tại Hà Nội) – cuốn sách giới thiệu các phong tục, lễ hội mùa xuân của nhiều vùng miền.
Trần Quốc Vượng (1934 – 2005) sinh ở Kinh Môn, Hải Dương, là giáo sư sử học, nhà khảo cổ học và nhà nghiên cứu văn hóa hàng đầu Việt Nam, Nhà giáo Ưu tú. Ông gắn bó cả đời với Khoa Sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (nay thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội), được xếp vào hàng tứ trụ của sử học Việt Nam đương đại cùng các giáo sư Đinh Xuân Lâm, Phan Huy Lê, Hà Văn Tấn. Ông để lại hàng trăm bài nghiên cứu và nhiều cuốn sách như Theo dòng lịch sử, Việt Nam, cái nhìn địa văn hóa, Tìm hiểu văn hóa dân gian Hà Nội.
Lê Văn Hảo (1936 – 2015) sinh ở Đà Nẵng, tiến sĩ dân tộc học tại Đại học Sorbonne (Pháp) năm 1961, từng giảng dạy dân tộc học và văn minh Việt Nam tại các trường đại học văn khoa ở Huế và Sài Gòn; ông có nhiều công trình về văn hóa, phong tục Việt Nam.
Dương Tất Từ là đồng tác giả của cuốn sách; các tài liệu phổ biến hiện chưa cung cấp tiểu sử chi tiết về ông, vì vậy khi làm bài em chỉ cần nêu ông là một trong ba người biên soạn.
Thông tin tác phẩm Hội lồng tồng
Xuất xứ văn bản Hội lồng tồng
Văn bản trích từ sách Mùa xuân và phong tục Việt Nam của Trần Quốc Vượng, Lê Văn Hảo, Dương Tất Từ (Nhà xuất bản Văn hóa, 1976, các trang 167 – 173). Khi đưa vào SGK, văn bản được lược bớt một số đoạn (đánh dấu bằng […]).
Thể loại, phương thức biểu đạt
- Thể loại: văn bản thông tin giới thiệu một lễ hội (thuật lại một sự kiện văn hóa).
- Phương thức biểu đạt chính: thuyết minh, kết hợp miêu tả và biểu cảm; có trích dẫn lời hát lượn.
- Thông tin được tổ chức theo các khía cạnh của lễ hội: thời gian – tên gọi – phần lễ – phần hội – ý nghĩa.
Bố cục Hội lồng tồng có mấy phần?
Có thể chia văn bản làm hai phần:
- Phần 1 (từ đầu đến “từng địa phương”): giới thiệu chung về hội lồng tồng – thời gian, ý nghĩa tên gọi, vị thần được thờ.
- Phần 2 (còn lại): thuật lại diễn biến lễ hội (phần lễ, các trò chơi tung còn, múa sư tử, hát lượn) và ý nghĩa của hội.
Ý nghĩa nhan đề Hội lồng tồng
Nhan đề nêu thẳng tên lễ hội được giới thiệu. Bản thân từ “lồng tồng” (xuống đồng) đã hé lộ bản chất của hội: một lễ hội nông nghiệp, mở màn mùa sản xuất mới của đồng bào Tày – Nùng.
Giá trị nội dung văn bản Hội lồng tồng
- Cung cấp hiểu biết về một lễ hội truyền thống tiêu biểu của đồng bào Tày – Nùng vùng Việt Bắc: thời gian, nguồn gốc, phần lễ, phần hội.
- Cho thấy ước vọng mùa màng bội thu, cuộc sống ấm no, lòng biết ơn người khai phá ruộng nương và tinh thần thượng võ của đồng bào.
- Thể hiện sự trân trọng, yêu mến của người viết đối với nét đẹp văn hóa dân tộc.
Giá trị nghệ thuật văn bản Hội lồng tồng
- Thông tin phong phú, chính xác, được sắp xếp theo trình tự hợp lí, dễ theo dõi.
- Kết hợp thuyết minh với miêu tả sinh động (quả còn, cây mai, màn múa sư tử), có dẫn lời hát lượn tạo không khí ngày hội.
- Ngôn ngữ trong sáng, giàu hình ảnh; một số từ địa phương được giải thích rõ.
Sơ đồ tư duy Hội lồng tồng

Lời kết
Qua Hội lồng tồng, em hiểu thêm một sắc màu của bức tranh văn hóa trăm miền: ngày hội xuống đồng rộn ràng tiếng còn, tiếng trống sư tử và câu lượn của đồng bào Tày – Nùng vùng Việt Bắc.
Xem thêm:
- Soạn bài Hội lồng tồng – Ngữ văn 7 Kết nối tri thức
- Soạn bài Chuyện cơm hến
- Tháng Giêng, mơ về trăng non rét ngọt (Vũ Bằng) – Soạn bài
- Tìm hiểu văn bản Những khuôn cửa dấu yêu
Xem thêm: Ném còn: nguồn gốc, luật chơi từng bước và ý nghĩa trong lễ hội – trò tung còn trong hội Lồng tồng.