Đồng bào là những người cùng một giống nòi, cùng một dân tộc hay cùng một đất nước với mình, gọi nhau thân thiết như anh em ruột thịt. Nghĩa đen của hai chữ Hán Việt 同胞 là “cùng một bọc”. Từ này còn dùng để chỉ nhân dân nói chung, phân biệt với bộ đội hay cán bộ, như trong câu “giúp đồng bào vùng lũ”.
| Nghĩa ngắn | Người cùng nòi giống, cùng đất nước, coi nhau như anh em |
| Gốc từ | Hán Việt 同胞: đồng (cùng) + bào (cái bọc, bào thai) |
| Loại từ | Danh từ |
| Sắc thái | Trang trọng mà ấm áp; hay dùng trong lời kêu gọi, văn bản chính thức |

Đồng bào: hai chữ “cùng một bọc”
Chữ bào (胞) có bộ nhục (thịt) bên trái, nghĩa gốc là cái màng, cái bọc bao lấy thai nhi. Cùng gốc là bào thai, tế bào (cái bọc nhỏ). Chữ đồng (同) là cùng, như trong đồng hương, đồng nghiệp.
Ghép lại, 同胞 lúc đầu chỉ anh chị em ruột, cùng cha mẹ sinh ra, cùng nằm chung một bọc. Từ điển Hán Việt ghi tiếp nghĩa mở rộng: người cùng một nòi giống, cùng một nước. Các từ điển chữ Hán do người Trung Quốc biên soạn cũng giảng chữ này đúng như thế. Vậy đây là từ mượn từ chữ Hán, không phải tiếng người Việt tự đặt ra.
Có điều, khi vào tiếng Việt, “cùng một bọc” gặp đúng hình ảnh quen thuộc nhất của người Việt về cội nguồn: cái bọc trăm trứng mẹ Âu Cơ sinh ra. Sự trùng hợp ấy làm chữ đồng bào ở ta có sức nặng riêng mà dịch sang ngôn ngữ khác khó giữ được.
Đồng bào được dùng theo những cách nào?
Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học ghi hai nét nghĩa chính.
- Người cùng nòi giống, cùng dân tộc, cùng tổ quốc với mình, hàm ý thân như ruột thịt. Ví dụ: đồng bào trong nước và ngoài nước; đồng bào miền Trung đang chống bão.
- Nhân dân nói chung, khi đặt cạnh lực lượng vũ trang hoặc cán bộ. Ví dụ: Bộ đội giúp đồng bào dọn bùn sau lũ.
Ngoài ra có mấy kết hợp cố định. Đồng bào dân tộc thiểu số là cách gọi tôn trọng các dân tộc ít người trong cộng đồng 54 dân tộc; cụm này xuất hiện nhiều trong văn bản nhà nước. Kiều bào (僑胞) là đồng bào đang sống ở nước ngoài. Còn quốc dân đồng bào là lối gọi trang trọng toàn thể nhân dân một nước.
Gọi người Hoa, người Khmer, người Chăm sống trên đất Việt là đồng bào cũng hoàn toàn đúng, vì nghĩa thứ nhất tính theo cùng đất nước, không chỉ theo cùng huyết thống. Chuyện chữ dân tộc mang nghĩa tộc người hay quốc gia được giải thích ở bài hai cách hiểu chữ dân tộc.
Bọc trăm trứng và câu ca dao nhiễu điều
Từ những năm tiểu học, học sinh đã gặp hình ảnh cái bọc qua truyền thuyết Lạc Long Quân lấy Âu Cơ, sinh ra một bọc trăm trứng, nở thành trăm người con. Người kể đời sau dùng câu chuyện ấy để giải thích vì sao người Việt ở khắp nơi đều gọi nhau là anh em. Toàn văn truyện có ở trang chuyện mẹ Âu Cơ sinh bọc trăm trứng.
Tình đồng bào còn đi vào ca dao bằng một hình ảnh rất đời thường:
Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
Người trong một nước phải thương nhau cùng.
Tấm nhiễu đỏ phủ kín giá gương để giữ cho gương khỏi bụi, khỏi vỡ. Người cùng một nước cũng phải che chở nhau như thế. Câu này là đề nghị luận quen thuộc ở bậc THCS, thường đi cùng tục ngữ “lá lành đùm lá rách”.
Đến văn chính luận hiện đại, chữ đồng bào được đặt ngay ở những dòng đầu của nhiều lời kêu gọi. Bản Tuyên ngôn Độc lập đọc tại Ba Đình năm 1945 mở đầu bằng lời gọi đồng bào cả nước, cách xưng hô vừa trang trọng vừa gần gũi.
Đồng bào, đồng hương, công dân khác nhau chỗ nào?
| Từ | Cùng nhau ở điểm gì | Ví dụ |
|---|---|---|
| Đồng bào | Cùng nòi giống, cùng đất nước; nặng tình ruột thịt | Quyên góp giúp đồng bào vùng lũ |
| Đồng hương | Cùng một quê, thường khi đang ở xa quê | Hội đồng hương Nghệ Tĩnh tại Hà Nội |
| Công dân | Cùng quốc tịch, xét theo quyền và nghĩa vụ pháp lý | Công dân đủ 18 tuổi được đi bầu cử |
| Đồng chí | Cùng chí hướng, cùng lý tưởng | Những người đồng chí trong bài thơ của Chính Hữu |
| Ngoại tộc, dị tộc (trái nghĩa) | Khác dòng giống, người ngoài | Dùng trong văn sử cũ |
Công dân là từ của luật pháp, đồng bào là từ của tình cảm. Một bản tin có thể viết “công dân Việt Nam ở nước ngoài”, nhưng lời kêu gọi ủng hộ thì gần như luôn viết “đồng bào”.
Chỗ dễ viết lệch: đừng dùng đồng bào cho một nhóm nhỏ như cùng lớp, cùng công ty. Nói “đồng bào lớp 9A” nghe như đùa, vì từ này vốn rộng bằng cả một dân tộc.
Đồng bào trong lời kêu gọi, văn bản và tiếng Anh
Đồng bào nghĩa là gì trong tiếng Hán Việt?
Đồng là cùng, bào là cái bọc thai. Nghĩa đen là cùng một bọc, tức anh em ruột; nghĩa rộng là người cùng một nòi giống, một đất nước.
Vì sao người Việt gọi nhau là đồng bào?
Vì người Việt coi nhau như con cháu chung một tổ tiên. Chữ “cùng một bọc” lại khớp với truyền thuyết bọc trăm trứng, nên cách gọi này mang cảm giác ruột thịt rất rõ.
Đồng bào dân tộc thiểu số là gì?
Là cách gọi những người thuộc các dân tộc ít người ở Việt Nam, như Tày, Thái, Mông, Khmer. Chữ đồng bào ở đây nhấn rằng họ cùng là anh em trong một đất nước.
Đồng bào tiếng Anh là gì?
Thường dịch là compatriot hoặc fellow citizen. Với “đồng bào dân tộc thiểu số”, văn bản tiếng Anh hay dùng ethnic minority people.