Học thầy, học bạn là văn bản nghị luận của tác giả Nguyễn Thanh Tú, bài đọc mở đầu Bài 8 (Những góc nhìn cuộc sống) trong sách Ngữ văn 6 Chân trời sáng tạo tập hai. Xuất phát từ hai câu tục ngữ tưởng như trái ngược nhau, văn bản giúp em trả lời một câu hỏi rất gần gũi: nên học thầy hay học bạn? Phần dưới đây lần lượt giới thiệu nội dung từng đoạn, tác giả, xuất xứ, bố cục, cách lập luận, giá trị của văn bản kèm sơ đồ tư duy để em ôn tập.
Nội dung văn bản Học thầy, học bạn
Văn bản gồm năm đoạn, in ở SGK tập hai, khoảng trang 42 – 44 (gồm cả câu hỏi). Do văn bản chưa hết thời hạn bảo hộ, Văn VN chỉ lược lại ý chính của mỗi đoạn; lời giải chi tiết các câu hỏi có trong bài soạn bài Học thầy, học bạn.

Đoạn 1 – Nêu vấn đề. Việc học kéo dài suốt đời và ở chặng nào ta cũng gặp người đáng học hỏi. Ông cha ta có câu “Không thầy đố mày làm nên” đề cao người thầy, lại có câu “Học thầy không tày học bạn” đề cao bạn bè. Tác giả đặt câu hỏi: hai lời khuyên ấy có mâu thuẫn không?
Đoạn 2 – Học thầy là điều quan trọng nhất. Dân tộc ta vốn tôn sư trọng đạo. Theo tác giả, dù làm ruộng, rèn sắt, chạm khắc hay nghiên cứu khoa học, nếu thiếu người thầy giỏi chỉ dẫn, mỗi người rất khó đạt được thành quả xứng đáng.
Đoạn 3 – Câu chuyện vẽ trứng của Đa Vin-chi. Cậu bé Lê-ô-na-rơ-đô Đa Vin-chi có năng khiếu hội họa nên được cha gửi theo học danh họa Ve-rốc-chi-ô. Ngày nào thầy cũng chỉ bắt cậu vẽ trứng khiến cậu chán nản. Thầy giảng rằng chẳng có hai quả trứng nào giống hệt nhau, nhìn từ mỗi góc lại thấy khác. Nhờ lời thầy, cậu hiểu phải luyện tập thật nhiều mới vẽ được sự vật chân thực, và về sau trở thành danh họa lừng lẫy bậc nhất trong lịch sử nhân loại. Bên cạnh tài năng bẩm sinh, công lao dìu dắt của thầy là rất lớn.
Đoạn 4 – Học bạn cũng rất cần thiết. Muốn thành công, ta phải học ở mọi nơi, mọi lúc, từ bất kì ai. Nhiều người chỉ coi bậc bề trên là thầy mà quên rằng bạn cùng lớp, cùng lứa cũng có thể dạy ta nhiều điều. Học với bạn lại có cái lợi riêng: cùng tuổi, cùng sở thích, cùng tâm lí nên trao đổi thoải mái, dễ dàng; chẳng hạn khi thảo luận nhóm, mỗi bạn đều học được kinh nghiệm của các bạn khác.
Đoạn 5 – Kết luận. Hai câu tục ngữ thoạt nghe như phủ định nhau nhưng thật ra bổ sung cho nhau, giúp ta hiểu việc học đầy đủ hơn. Tác giả kết bài bằng một hình ảnh so sánh đẹp: “Biển học mênh mông, vai trò của người thầy có thể ví như ngọn hải đăng soi đường, chỉ lối, còn bạn là những người đồng hành quan trọng để cùng ta chinh phục chân trời tri thức.”
Thông tin tác giả Nguyễn Thanh Tú
Sách giáo khoa Ngữ văn 6 Chân trời sáng tạo và các tài liệu hướng dẫn học đều ghi tác giả của văn bản là Nguyễn Thanh Tú, bài viết được in trong cuốn Văn biểu cảm – nghị luận (NXB Giáo dục, 2001). Các tài liệu tham khảo phổ biến không nêu năm sinh hay quê quán của tác giả; Văn VN vì vậy không bổ sung những chi tiết chưa kiểm chứng được.
Qua văn bản, có thể thấy cách viết của tác giả rất phù hợp với học sinh: vấn đề được nêu bằng hai câu tục ngữ quen thuộc, lí lẽ ngắn gọn, bằng chứng là một câu chuyện có thật về danh họa nổi tiếng, kết bài bằng một hình ảnh so sánh dễ nhớ. Đây là kiểu bài nghị luận mẫu mực để học sinh lớp 6 làm quen với cách nêu ý kiến, lí lẽ và bằng chứng.
Thông tin tác phẩm Học thầy, học bạn
Xuất xứ của văn bản Học thầy, học bạn
Văn bản được trích từ cuốn Văn biểu cảm – nghị luận, NXB Giáo dục, 2001. Trong sách Ngữ văn 6 Chân trời sáng tạo, đây là văn bản đọc thứ nhất của Bài 8, học trước Bàn về nhân vật Thánh Gióng và Góc nhìn.
Thể loại và phương thức biểu đạt
- Thể loại: văn bản nghị luận (nghị luận xã hội – bàn về một vấn đề trong đời sống học tập).
- Phương thức biểu đạt chính: nghị luận, có kết hợp tự sự (câu chuyện Đa Vin-chi vẽ trứng).
Vấn đề nghị luận của văn bản
Văn bản bàn về vai trò của việc học thầy và học bạn. Ý kiến chính: học thầy và học bạn đều quan trọng, không mâu thuẫn mà bổ sung cho nhau, giúp mỗi người hoàn thiện con đường học tập.
Bố cục: Học thầy, học bạn có mấy phần?
Văn bản có thể chia làm 3 phần:
- Phần 1 (đoạn 1): Nêu vấn đề – giới thiệu hai câu tục ngữ và câu hỏi liệu chúng có mâu thuẫn.
- Phần 2 (đoạn 2 – 4): Giải quyết vấn đề – lần lượt làm rõ vì sao cần học thầy và vì sao cần học bạn.
- Phần 3 (đoạn 5): Kết luận – hai cách học bổ sung cho nhau, khẳng định vai trò của thầy và bạn.
Ý kiến, lí lẽ và bằng chứng trong văn bản
| Ý kiến | Lí lẽ | Bằng chứng |
|---|---|---|
| Học thầy giữ vai trò hàng đầu | Ông cha ta vốn coi trọng đạo thầy trò; không có thầy giỏi dìu dắt thì khó làm nên việc gì, ở bất kì nghề nào | Câu chuyện Đa Vin-chi theo học thầy Ve-rốc-chi-ô, kiên trì vẽ trứng rồi trở thành danh họa |
| Học bạn cũng rất cần thiết | Phải học mọi nơi, mọi lúc, từ bất cứ ai; học với bạn cùng lứa thì thoải mái, dễ dàng | Hoạt động thảo luận nhóm: mỗi bạn trong nhóm đều rút được kinh nghiệm từ người khác |
| Hai cách học bổ sung cho nhau | Hai câu tục ngữ chỉ mâu thuẫn bề ngoài, thực chất giúp nhận thức về việc học toàn diện hơn | Hình ảnh so sánh thầy là ngọn hải đăng, bạn là người đồng hành |
Tác dụng của các từ “mặt khác”, “hơn nữa”
Hai từ ngữ này dùng để liên kết các ý trong bài. “Mặt khác” chuyển từ ý học thầy sang ý học bạn, cho thấy vấn đề được xem xét ở một phương diện mới. “Hơn nữa” bổ sung thêm một lí lẽ cho ý đang trình bày, làm lập luận thêm chặt chẽ.
Giá trị nội dung
Văn bản khẳng định cả thầy và bạn đều là những người giúp ta trưởng thành trên con đường học tập. Người thầy định hướng, dẫn dắt; bạn bè đồng hành, chia sẻ. Từ đó, văn bản nhắc học sinh biết kính trọng thầy cô, quý trọng bạn bè và chủ động học hỏi ở mọi người xung quanh.
Giá trị nghệ thuật
- Mở bài bằng hai câu tục ngữ quen thuộc, nêu vấn đề dưới dạng câu hỏi gây chú ý.
- Bố cục rõ ràng; dùng từ ngữ liên kết (“mặt khác”, “hơn nữa”) để chuyển ý mạch lạc.
- Bằng chứng tiêu biểu, giàu sức thuyết phục (câu chuyện Đa Vin-chi).
- Kết bài bằng hình ảnh so sánh giàu ý nghĩa, dễ nhớ.
Tóm tắt nội dung văn bản Học thầy, học bạn
Từ hai câu tục ngữ về việc học, tác giả bàn rằng học thầy và học bạn đều cần thiết. Người thầy hiểu biết giúp ta làm nên việc lớn, như thầy Ve-rốc-chi-ô đã dạy cậu bé Đa Vin-chi kiên trì vẽ trứng để trở thành danh họa. Bạn bè cùng lứa giúp ta học hỏi thoải mái, dễ dàng, nhất là khi thảo luận nhóm. Vì vậy, hai cách học không mâu thuẫn mà bổ sung cho nhau. Xem thêm nhiều mẫu khác ở bài tóm tắt Học thầy, học bạn.
Sơ đồ tư duy Học thầy, học bạn
Sơ đồ dưới đây giúp em hệ thống nhanh các ý chính của văn bản.

Lời kết
Khi học Học thầy, học bạn, em cần nhớ: tác giả Nguyễn Thanh Tú; văn bản trích từ Văn biểu cảm – nghị luận (2001); thể loại nghị luận; bố cục 3 phần; ý kiến chính là học thầy và học bạn đều quan trọng, bổ sung cho nhau. Văn bản là ví dụ rõ ràng để em luyện cách tìm ý kiến, lí lẽ, bằng chứng trước khi viết bài văn trình bày ý kiến về một hiện tượng trong đời sống ở cuối Bài 8.
Xem thêm: