Đọc văn – cuộc chơi tìm ý nghĩa là văn bản nghị luận văn học của Giáo sư Trần Đình Sử, văn bản đọc thứ hai trong Bài 8 (Nhà văn và trang viết), sách Ngữ văn 8 Kết nối tri thức tập hai (trang 66 – 69). Văn bản trả lời một câu hỏi tưởng đơn giản mà không dễ: đọc một tác phẩm văn học thực chất là làm gì? Bài viết dưới đây tổng hợp nội dung, thông tin tác giả, xuất xứ, luận đề, luận điểm, bố cục, giá trị và sơ đồ tư duy của văn bản.
Nội dung văn bản Đọc văn – cuộc chơi tìm ý nghĩa
Văn bản còn trong thời hạn bảo hộ quyền tác giả, vì thế Văn VN chỉ tóm lược ý từng đoạn và trích một vài câu ngắn. Để trả lời đầy đủ các câu hỏi SGK, em xem bài soạn bài Đọc văn – cuộc chơi tìm ý nghĩa.

Đoạn (1). Tác phẩm văn học luôn mang ý nghĩa, nhưng ý nghĩa ấy không phơi ra bề mặt mà ẩn sâu bên trong: “Đọc văn tức là đi tìm ý nghĩa tiềm ẩn đó.” Tác giả ví việc tìm nghĩa giống trò chơi ú tim: tưởng đã nắm được thì nó lại lẩn sang chỗ khác. Chính sự lẩn khuất ấy làm người đọc say mê.
Đoạn (2). Người ta đã nghĩ ra nhiều lí thuyết, phương pháp đọc, nhưng cốt lõi vẫn là thông qua trang văn để hiểu thế giới, hiểu cuộc đời, tìm ra ý nghĩa nhân sinh bằng chính tâm hồn mình. “Các phương pháp chỉ là phụ trợ.”
Đoạn (3). Ý nghĩa của tác phẩm không chỉ nằm trong câu chữ mà còn nằm trong quan hệ giữa văn bản với bối cảnh lịch sử, nền văn hóa và đời sống tinh thần của con người. Quan niệm cũ coi ý nghĩa là thứ cố định, chỉ cần một câu nhận xét tài tình là chốt xong; lí thuyết đọc hiện đại thì cho rằng ý nghĩa luôn vận động và lớn dần lên. Vì tác phẩm có nhiều tầng nghĩa nên “Không ai có thể đọc tác phẩm một lần là xong.” Mỗi lượt đọc chỉ là một chặng trong cuộc chạy tiếp sức của nhiều thế hệ độc giả; ai cũng được tham gia bình đẳng và “Không ai có tiếng nói cuối cùng.”
Đoạn (4). Tự do của người đọc có giới hạn: “Thưởng thức văn học cũng có quy luật.” Tác giả so sánh: ca sĩ không thể hát lệch khỏi khuông nhạc mà nhạc sĩ đã viết, cũng vậy, người đọc phải bám vào ngôn từ, hình tượng của văn bản; những cảm nhận không kiểm chứng được bằng văn bản là đọc lệch. Trong khuôn khổ ấy, người đọc vẫn có quyền hình dung, giải thích, làm cho hình tượng hiện lên cụ thể, miễn không làm tổn hại tính trọn vẹn của tác phẩm.
Đoạn (5). Đọc văn là một hiện tượng kì diệu. Khi ta đọc, cuốn sách như tan biến để thế giới hình tượng bước vào lòng ta; ta nghĩ bằng chữ nghĩa của người viết, còn người viết lại lên tiếng qua tâm hồn ta. Ranh giới giữa người đọc và tác giả gần như bị xóa nhòa; người đọc không đứng ngoài đệm đàn mà trực tiếp diễn tấu tác phẩm theo bản nhạc người viết để lại, nên mỗi người lại cho ra một tác phẩm mang sắc thái riêng.
Đoạn (6). “Đọc văn là nền tảng của học văn.” Học văn là rèn năng lực cảm thụ, bồi dưỡng thị hiếu, tích lũy hiểu biết và luyện khả năng diễn đạt, sáng tạo. Tác giả nhắc lời Đỗ Phủ và chuyện M. Go-rơ-ki đã đọc vô cùng nhiều trên con đường trở thành nhà văn, rồi kết luận: “Phải đọc văn để người đọc tự phát hiện ra mình và lớn lên.”
Thông tin tác giả Trần Đình Sử
Trần Đình Sử sinh ngày 10/8/1940 tại Huế, quê gốc ở huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên (nay thuộc thành phố Huế). Tuổi nhỏ ông theo gia đình ra vùng chiến khu Quảng Trị, sau đó học tập ở miền Bắc. Ông tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội, được cử sang Trung Quốc học văn học, rồi làm nghiên cứu sinh và bảo vệ luận án tiến sĩ tại Ki-ép (Liên Xô) năm 1980.
Ông giảng dạy lí luận văn học ở Đại học Sư phạm Vinh (từ 1966), rồi ở Đại học Sư phạm Hà Nội (từ 1981); được phong Giáo sư, danh hiệu Nhà giáo Ưu tú (2002) và Nhà giáo Nhân dân (2010). Ông hướng dẫn hàng chục nghiên cứu sinh và tham gia biên soạn nhiều bộ sách giáo khoa Ngữ văn phổ thông.
Trần Đình Sử được xem là người có công lớn đưa thi pháp học và tự sự học vào nghiên cứu, giảng dạy văn học ở Việt Nam từ thập niên 1980, giúp người đọc chú ý hơn tới giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Các công trình tiêu biểu: “Thi pháp thơ Tố Hữu” (1987), “Những thế giới nghệ thuật thơ” (1995), “Dẫn luận thi pháp học” (1998), “Đọc văn học văn” (2001), “Thi pháp Truyện Kiều” (2002), bộ “Tự sự học” (chủ biên)…
Thông tin tác phẩm Đọc văn – cuộc chơi tìm ý nghĩa
Xuất xứ văn bản
Văn bản được trích từ cuốn “Đọc văn học văn” (NXB Giáo dục, 2001) – gồm nhiều bài viết của Trần Đình Sử bàn về cách đọc và cảm thụ tác phẩm ở trường phổ thông. Các đoạn được đánh số (1) đến (6); những chỗ lược bớt được đánh dấu […].
Thể loại, phương thức biểu đạt
- Thể loại: văn bản nghị luận văn học.
- Phương thức biểu đạt chính: nghị luận; có xen yếu tố biểu cảm (đặc biệt ở đoạn 5).
Luận đề của văn bản là gì?
Luận đề: đọc văn là cuộc chơi khám phá phần nghĩa ẩn sâu trong tác phẩm – cuộc chơi không có hồi kết, có luật và đòi hỏi người đọc dấn thân bằng cả tâm hồn.
Hệ thống luận điểm
| Đoạn | Luận điểm |
|---|---|
| (1) | Tác phẩm văn học mang nghĩa ẩn; người đọc có nhiệm vụ khám phá nó. |
| (2) | Phương pháp nào cũng chỉ hỗ trợ; điều cốt yếu là dùng tâm hồn mình để hiểu đời qua trang sách. |
| (3) | Ý nghĩa gắn với đời sống, luôn biến động nên cuộc tìm kiếm không có điểm dừng. |
| (4) | Đọc văn phải tuân theo quy luật, tôn trọng văn bản. |
| (5) | Đọc văn là hiện tượng diệu kì: người đọc hóa thân, cùng nhà văn tạo nên tác phẩm. |
| (6) | Đọc là nền móng của toàn bộ việc học văn. |
Bố cục – Đọc văn cuộc chơi tìm ý nghĩa có mấy phần?
- Phần 1 – đoạn (1): nêu vấn đề – tác phẩm văn học luôn chứa phần nghĩa ẩn, và đọc là hành trình truy tìm phần nghĩa đó.
- Phần 2 – đoạn (2) đến (5): làm sáng tỏ vấn đề qua các khía cạnh: bản chất việc đọc, tính không cố định của ý nghĩa, quy luật của việc đọc, sự kì diệu của quá trình tiếp nhận.
- Phần 3 – đoạn (6): khẳng định vai trò của đọc văn đối với học văn.
Đặc điểm lập luận
- Thiên về lí lẽ, khái quát; bằng chứng chủ yếu là các hiện tượng tiếp nhận văn học và vài dẫn chứng ngắn (lời Đỗ Phủ, chuyện Go-rơ-ki). Đây là điểm khác với văn bản “Nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam” đứng trước, vốn dẫn rất nhiều câu thơ cụ thể.
- Dùng các từ nối, cụm chuyển ý (vì thế, vậy nên, thực tế cho thấy, nhưng, tuy nhiên, cho nên) để dẫn dắt mạch lập luận chặt chẽ.
- Nhiều so sánh, hình ảnh gần gũi: trò chơi ú tim, cuộc chạy tiếp sức, người ca sĩ hát theo bản nhạc.
Giá trị nội dung
Văn bản giúp người đọc hiểu bản chất của việc đọc văn: đó là quá trình chủ động, sáng tạo, tìm kiếm ý nghĩa nhân sinh ẩn trong tác phẩm, vừa tự do vừa phải tôn trọng văn bản. Qua đó, tác giả đề cao vai trò của người đọc và khẳng định đọc là con đường căn bản để học văn, để mỗi người hiểu chính mình.
Giá trị nghệ thuật
- Luận điểm rõ ràng, sắp xếp hợp lí từ khái niệm đến quy luật rồi tới ý nghĩa.
- Lí lẽ sâu sắc mà vẫn dễ hiểu nhờ cách so sánh giàu hình ảnh.
- Giọng văn linh hoạt: khúc chiết ở các đoạn lí giải, say sưa, cảm thán ở đoạn (5).
Ý nghĩa nhan đề Đọc văn – cuộc chơi tìm ý nghĩa
Nhan đề định nghĩa việc đọc văn bằng một hình ảnh ẩn dụ: cuộc chơi. Đã là cuộc chơi thì phải có hứng thú, có người cùng chơi và có luật chơi; mục đích của cuộc chơi ấy là tìm ý nghĩa. Nhan đề vì thế gói gọn cả luận đề: đọc văn vừa là niềm vui khám phá tự do, vừa là hoạt động nghiêm túc có quy tắc.
Sơ đồ tư duy Đọc văn – cuộc chơi tìm ý nghĩa
Sơ đồ dưới đây hệ thống các ý chính của văn bản.

Lời kết
Khi ôn tập văn bản, em cần nhớ: tác giả là GS Trần Đình Sử – nhà lí luận văn học hàng đầu; văn bản trích từ cuốn “Đọc văn học văn” (2001); luận đề là đọc văn – cuộc chơi tìm ý nghĩa; văn bản gồm 6 đoạn chia làm 3 phần; lập luận nghiêng về lí lẽ với nhiều so sánh hình ảnh. Những ý này cũng rất hữu ích khi em viết bài trình bày ý kiến về văn học trong đời sống ở cuối Bài 8.
Xem thêm: