Nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam là đoạn trích bài nghiên cứu của Xuân Diệu về Nguyễn Khuyến, văn bản đọc mở đầu Bài 8 (Nhà văn và trang viết) trong sách Ngữ văn 8 Kết nối tri thức tập hai. Bằng con mắt của một nhà thơ lớn, Xuân Diệu bình ba bài thơ thu nổi tiếng Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh và chỉ ra vì sao Nguyễn Khuyến xứng đáng là thi sĩ của làng quê Việt. Bài viết dưới đây tổng hợp nội dung văn bản, thông tin tác giả, xuất xứ, thể loại, luận đề, bố cục, hệ thống luận điểm, giá trị nội dung – nghệ thuật và sơ đồ tư duy.
Nội dung văn bản Nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam
Văn bản là phần trích từ một bài viết dài của Xuân Diệu, có dẫn trọn ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến. Lời bình của Xuân Diệu còn trong thời hạn bảo hộ bản quyền nên Văn VN chỉ tóm lược và trích vài cụm từ then chốt; các câu thơ của Nguyễn Khuyến được trích theo bản in trong văn bản. Phần trả lời câu hỏi SGK có ở bài soạn bài Nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam.

Nêu vấn đề. Mở đầu, Xuân Diệu khẳng định Nguyễn Khuyến nổi tiếng nhất ở mảng thơ Nôm, và trong thơ Nôm, ba bài thơ mùa thu được truyền tụng hơn cả vì chúng hay và mang đúng mùa thu miền Bắc nước ta. Đọc Thu điếu, người ta thấy ngay ao chuôm, làng mạc đồng bằng Bắc Bộ – “rất là đất nước nhà mình, có thật, rất sống”, không vay mượn ước lệ sách vở.
Bình bài Thu ẩm. Xuân Diệu nhận xét bài thơ đã rời bỏ những hình ảnh xa hoa quen thuộc của văn chương cũ để nói về căn nhà cỏ bình dân. Ông lập luận rằng Thu ẩm không tả một đêm trăng duy nhất mà gom nhiều thời điểm của mùa thu: nếu là đêm tối thì không thể vừa có đom đóm lập lòe vừa có trăng sáng; khói nhạt lưng giậu và bầu trời xanh ngắt đều là cảnh buổi chiều. Ông đặc biệt khen câu thơ:
Làn ao lóng lánh bóng trăng loe
với những phụ âm “l”, thanh sắc và vần “oe” gợi ánh trăng vàng sáng tỏa trên mặt ao tròn – một câu thơ hiếm có.
Bình bài Thu vịnh. Theo Xuân Diệu, đây là bài có “thần” nhất, mang được cái hồn của mùa thu: “cái thanh, cái trong, cái nhẹ, cái cao”. Hồn thu nằm ở bầu trời: trời xanh cao, cần trúc mảnh mai, bóng trăng lọt qua song cửa, tiếng ngỗng gợi không gian xa; mấy chùm hoa năm ngoái gợi thời gian; làn nước như khói phủ gợi cảm giác mơ hồ. Hai câu kết là nỗi thẹn của nhà nho chưa dứt khoát từ quan như Đào Uyên Minh.
Bình bài Thu điếu. Dù Thu vịnh có thần hơn, Xuân Diệu vẫn xem Thu điếu “điển hình hơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam”. Vùng Bình Lục chiêm trũng nhiều ao nên ao nhỏ, thuyền câu cũng nhỏ; mắt nhìn đi từ mặt ao lên trời xanh, quanh co theo ngõ trúc vắng người. Cái thú vị của bài là những sắc xanh nối nhau, điểm một màu vàng của chiếc lá rơi; là những cử động rất khẽ; là vần “eo” khó mà được gieo tự nhiên. Ông chỉ ra sự tương xứng tài tình giữa hai câu:
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.
So với câu thơ thời Lê Hồng Đức còn nặng nề, câu “Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao” của Nguyễn Khuyến đã trong trẻo, nhẹ nhõm – kết quả của khổ luyện để đạt tới sự “đắc đạo” trong ngôn ngữ.
Đánh giá chung. Gộp lại, ba bài thơ là thành công của quá trình “dân tộc hóa” cả nội dung mùa thu lẫn hình thức câu thơ Nôm, làm cho thu trong thơ thật sự là thu Việt Nam.
Thông tin tác giả Xuân Diệu
Xuân Diệu (1916 – 1985) tên thật là Ngô Xuân Diệu, quê cha ở Can Lộc (Hà Tĩnh), lớn lên ở Quy Nhơn (Bình Định). Ông tham gia Tự lực văn đoàn, là cây bút tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới với các tập Thơ thơ (1938), Gửi hương cho gió (1945). Sau Cách mạng tháng Tám, ông tham gia kháng chiến, tiếp tục sáng tác với Riêng chung (1960) và nhiều tập thơ khác. Tìm hiểu thêm về phong cách thơ của ông ở bài phong cách sáng tác của Xuân Diệu.
Bên cạnh thơ, Xuân Diệu còn là nhà nghiên cứu, phê bình văn học có nhiều đóng góp. Những bài viết về các nhà thơ cổ điển như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến… của ông giàu cảm xúc, tinh tế, thường đi sâu vào từng chữ, từng âm thanh của câu thơ. Ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 1996.
Thông tin tác phẩm Nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam
Xuất xứ của văn bản
Văn bản trích từ sách Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, tập II của Xuân Diệu (NXB Văn học, Hà Nội, 1982), được tuyển vào SGK Ngữ văn 8 Kết nối tri thức, tập hai, Bài 8 – Nhà văn và trang viết.
Đôi nét về Nguyễn Khuyến và ba bài thơ thu
Nguyễn Khuyến (1835 – 1909) quê làng Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, đỗ đầu cả ba kì thi nên được gọi là Tam nguyên Yên Đổ. Sau thời gian ngắn làm quan, ông cáo về quê. Ba bài Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh đều viết bằng chữ Nôm, theo thể thất ngôn bát cú Đường luật. Xem thêm tiểu sử Nguyễn Khuyến và bài Thu điếu: tác giả, tác phẩm.
Thể loại và phương thức biểu đạt
- Thể loại: văn bản nghị luận văn học (bình luận, đánh giá tác phẩm thơ).
- Phương thức biểu đạt chính: nghị luận, kết hợp biểu cảm.
Luận đề của văn bản
Nguyễn Khuyến là nhà thơ của quê hương làng cảnh Việt Nam, thể hiện qua ba bài thơ thu giàu tính dân tộc cả về nội dung lẫn hình thức. Luận đề được nêu ngay ở nhan đề và được triển khai qua việc phân tích lần lượt từng bài thơ.
Bố cục: văn bản có mấy phần?
Văn bản chia làm 3 phần:
- Phần 1 (từ đầu đến “Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh. […]”): Giới thiệu Nguyễn Khuyến và ba bài thơ thu nổi tiếng.
- Phần 2 (tiếp đến “nghệ thuật ngôn ngữ”): Phân tích nét đặc sắc của từng bài: Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh rồi trở lại Thu điếu.
- Phần 3 (câu cuối): Đánh giá chung về giá trị của ba bài thơ thu.
Hệ thống luận điểm, lí lẽ, bằng chứng
| Luận điểm | Lí lẽ chính | Bằng chứng |
|---|---|---|
| Ba bài thu là thơ Nôm hay và điển hình nhất của Nguyễn Khuyến | Cảnh thật của làng quê Bắc Bộ, không theo ước lệ; được nhiều người thuộc | Toàn văn bài Thu điếu |
| Thu ẩm tổng hợp nhiều thời điểm của mùa thu | Đêm tối không đi cùng trăng sáng; khói lưng giậu, trời xanh ngắt là cảnh chiều | Các câu 2, 3, 4, 5; hai câu thơ chữ Hán do chính Nguyễn Khuyến viết |
| Thu vịnh có thần, mang hồn mùa thu | Hồn thu ở bầu trời cao, trong, nhẹ; gợi bâng khuâng về không gian và thời gian | Trời xanh, cần trúc, bóng trăng, tiếng ngỗng, hoa năm ngoái |
| Thu điếu điển hình nhất cho làng cảnh Việt Nam | Ao nhỏ, thuyền nhỏ của vùng chiêm trũng; sắc xanh, cử động khẽ, vần thơ tự nhiên | Câu 3 – 4 (gợn tí / đưa vèo); so sánh với câu thơ thời Hồng Đức |
Giá trị nội dung
Văn bản làm nổi bật vẻ đẹp riêng của từng bài thơ thu và phong cách của Nguyễn Khuyến – nhà thơ của làng quê Bắc Bộ; khẳng định ba bài thơ là thành công của việc dân tộc hóa đề tài mùa thu và ngôn ngữ thơ Nôm. Qua đó, người đọc thêm yêu cảnh sắc quê hương và trân trọng tài năng của thi nhân.
Giá trị nghệ thuật
- Luận điểm rõ, sắp xếp hợp lí; lí lẽ chặt chẽ, bằng chứng là chính những câu thơ được phân tích kĩ.
- Phân tích tinh tế đến từng âm, từng vần; có so sánh để làm nổi bật giá trị.
- Giọng văn giàu cảm xúc, hóm hỉnh, mang dấu ấn riêng của một nhà thơ viết phê bình.
Ý nghĩa nhan đề
Nhan đề là một lời đánh giá cô đọng về Nguyễn Khuyến: ông là nhà thơ viết về quê hương, về làng cảnh Việt Nam một cách chân thực và sâu sắc nhất. Nhan đề cũng chính là luận đề của toàn văn bản.
Sơ đồ tư duy văn bản
Sơ đồ dưới đây giúp em ôn lại nhanh các ý chính.

Lời kết
Cần nhớ: tác giả Xuân Diệu – nhà thơ mới tiêu biểu, đồng thời là nhà phê bình văn học; văn bản trích từ Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, tập II (1982); thể loại nghị luận văn học; bố cục 3 phần; luận đề: Nguyễn Khuyến là nhà thơ của làng cảnh Việt Nam với ba bài thơ thu dân tộc hóa cả nội dung và hình thức. Đọc kĩ văn bản sẽ giúp em viết tốt bài phân tích một tác phẩm văn học.
Xem thêm: