Cô Tô là bài kí nổi tiếng của nhà văn Nguyễn Tuân về quần đảo Cô Tô ở vùng biển Đông Bắc, được học trong Ngữ văn 6 Kết nối tri thức (tập 1, Bài 5 “Những nẻo đường xứ sở”). Bài viết tổng hợp thông tin tác giả, hoàn cảnh sáng tác, thể loại, bố cục, giá trị nội dung – nghệ thuật, sơ đồ tư duy và tóm tắt ngắn để em ôn tập nhanh.
Nội dung văn bản Cô Tô
Văn bản trong sách giáo khoa là phần cuối của bài kí Cô Tô. Người kể chuyện – nhà văn, xưng “tôi” – ghi lại những ngày ở trên quần đảo. Mở đầu là một trận bão biển dữ dội: gió, cát, sóng được miêu tả như một trận chiến với “trận địa”, “hoả lực”, những viên cát bắn vào người như đạn, tiếng sóng rền như trống trận.

Sau bão, ngày thứ năm trên đảo Cô Tô trở nên trong trẻo, sáng sủa. Từ nóc đồn biên phòng, nhà văn phóng tầm mắt ra biển rộng, thấy cây trên núi đảo xanh mượt hơn, nước biển lam biếc đậm đà hơn, cát vàng giòn hơn, và càng thêm yêu hòn đảo như chính người dân chài sinh ra, lớn lên ở đây.
Hôm sau, trên đảo Thanh Luân, tác giả dậy từ canh tư, ra tận đầu mũi đảo để ngắm mặt trời mọc. Cảnh bình minh hiện lên rực rỡ, tráng lệ; mặt trời được ví như “lòng đỏ một quả trứng thiên nhiên đầy đặn” đặt trên mâm bạc là mặt biển. Khi mặt trời đã lên cao, nhà văn đến bên cái giếng nước ngọt ở rìa đảo – nơi đông vui nhất, người dân đến gánh, múc nước, chuẩn bị cho thuyền ra khơi. Bài kí khép lại bằng hình ảnh chị Châu Hoà Mãn địu con dịu dàng, gợi liên tưởng biển cả như người mẹ hiền.
Nguyễn Tuân mất năm 1987 nên tác phẩm vẫn còn được bảo hộ bản quyền; bài viết chỉ tóm lược và trích ngắn. Em đọc toàn văn trong sách giáo khoa và xem lời giải câu hỏi ở bài soạn bài Cô Tô.
Thông tin tác giả Nguyễn Tuân
Nguyễn Tuân (1910–1987) sinh ra ở Hà Nội, quê làng Mọc (Nhân Mục), nay thuộc Thanh Xuân, Hà Nội. Ông xuất thân trong một gia đình nhà nho khi Hán học đã tàn, từng theo cha sống ở nhiều tỉnh miền Trung và miền Bắc. Tuổi trẻ nhiều biến động đã hình thành ở ông một con người ưa xê dịch, thích đi đây đi đó để khám phá cái đẹp.
Trước Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân nổi tiếng với các tác phẩm Vang bóng một thời, Một chuyến đi, Thiếu quê hương. Sau năm 1945, ông tham gia cách mạng và kháng chiến, dùng ngòi bút phục vụ cuộc sống mới với các tập tuỳ bút, bút kí như Sông Đà, Hà Nội ta đánh Mỹ giỏi… Năm 1996, ông được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.
Nguyễn Tuân là bậc thầy của thể tuỳ bút và kí. Phong cách của ông tài hoa, uyên bác, luôn nhìn sự vật ở phương diện thẩm mĩ; ông huy động kiến thức nhiều ngành (hội hoạ, điện ảnh, quân sự, địa lí…) để miêu tả, và có vốn từ vựng vô cùng phong phú, sáng tạo. Em có thể tìm hiểu kĩ hơn ở bài giới thiệu tác giả Nguyễn Tuân và phong cách sáng tác của Nguyễn Tuân.
Thông tin tác phẩm Cô Tô
Phần này trả lời những câu hỏi thường gặp khi tìm hiểu văn bản: xuất xứ, hoàn cảnh sáng tác, thể loại, ngôi kể, bố cục, giá trị nội dung và nghệ thuật.
Hoàn cảnh sáng tác Cô Tô
Bài kí được Nguyễn Tuân viết sau chuyến ra thăm quần đảo Cô Tô (tỉnh Quảng Ninh), in lần đầu năm 1976. Văn bản học trong sách Ngữ văn 6 Kết nối tri thức là phần cuối của bài kí, sau được in trong Nguyễn Tuân toàn tập.
Cô Tô thuộc thể loại gì?
Cô Tô thuộc thể kí – ghi chép lại những điều tác giả tận mắt chứng kiến, trải nghiệm trong chuyến đi, kết hợp với cảm xúc, suy nghĩ của người viết.
Phương thức biểu đạt và ngôi kể
Phương thức biểu đạt chính là miêu tả, kết hợp với tự sự và biểu cảm. Văn bản được kể theo ngôi thứ nhất (người kể xưng “tôi”, “chúng tôi” – chính là tác giả), giúp những điều được ghi lại chân thực và thấm đẫm cảm xúc.
Bố cục: Cô Tô có mấy phần?
Theo văn bản trong sách Kết nối tri thức, bài kí chia làm 4 phần:
- Phần 1 (từ đầu đến trước đoạn “Ngày thứ năm trên đảo Cô Tô…”): cảnh trận bão biển dữ dội ở Cô Tô.
- Phần 2 (từ “Ngày thứ năm trên đảo Cô Tô…” đến “…theo mùa sóng ở đây”): cảnh Cô Tô trong trẻo, tươi sáng sau trận bão, nhìn từ nóc đồn biên phòng.
- Phần 3 (tiếp theo đến “…là là nhịp cánh”): cảnh mặt trời mọc trên biển, quan sát từ đầu mũi đảo Thanh Luân.
- Phần 4 (phần còn lại): cảnh sinh hoạt buổi sáng quanh giếng nước ngọt trên đảo Thanh Luân.
Ở sách giáo khoa cũ (không có đoạn tả bão), văn bản chỉ gồm 3 phần tương ứng với phần 2, 3, 4 ở trên.
Giá trị nội dung
- Khắc hoạ vẻ đẹp hùng vĩ, trong sáng, tráng lệ của thiên nhiên vùng đảo Cô Tô: từ trận bão dữ dội đến buổi sáng trong trẻo và cảnh bình minh rực rỡ trên biển.
- Tái hiện cuộc sống lao động khẩn trương, đông vui mà thanh bình của người dân trên đảo.
- Thể hiện tình yêu thiên nhiên, tình cảm gắn bó, trân trọng của nhà văn với con người và mảnh đất nơi biển đảo của Tổ quốc.
Giá trị nghệ thuật
- Quan sát tinh tế, lựa chọn vị trí và thời điểm quan sát hợp lí (nóc đồn, đầu mũi đảo, bên giếng nước).
- Sử dụng nhiều biện pháp so sánh, nhân hoá, ẩn dụ độc đáo, bất ngờ; vận dụng từ ngữ quân sự để tả bão.
- Ngôn ngữ điêu luyện, giàu hình ảnh và màu sắc, câu văn vừa chính xác vừa giàu cảm xúc – dấu ấn phong cách tài hoa của Nguyễn Tuân.
Sơ đồ tư duy Cô Tô
Sơ đồ dưới đây tóm tắt các ý chính về tác giả, hoàn cảnh, thể loại, bố cục và giá trị của văn bản.

Tóm tắt Cô Tô
Hai mẫu tóm tắt ngắn dưới đây giúp em nắm nhanh trình tự các cảnh trong bài kí.
Mẫu 1 – Tóm tắt Cô Tô ngắn nhất
Nhà văn ra thăm quần đảo Cô Tô và chứng kiến một trận bão biển dữ dội. Sau bão, Cô Tô hiện lên trong trẻo, tươi sáng; cảnh mặt trời mọc trên biển đẹp tráng lệ. Buổi sáng, bên giếng nước ngọt trên đảo Thanh Luân, người dân tấp nập gánh nước chuẩn bị ra khơi, cuộc sống thật đông vui, thanh bình.
Mẫu 2 – Tóm tắt Cô Tô theo bố cục
Những ngày ở Cô Tô, nhà văn gặp một trận bão lớn: gió, cát, sóng tấn công dữ dội như một trận đánh. Đến ngày thứ năm, trời trong trẻo, sáng sủa; từ nóc đồn biên phòng, ông ngắm toàn cảnh đảo với cây xanh mượt, nước biển lam biếc, cát vàng giòn và thấy yêu hòn đảo như người dân chài nơi đây. Hôm sau, ông dậy từ canh tư, ra đầu mũi đảo Thanh Luân ngắm mặt trời mọc: mặt trời tròn trĩnh như lòng đỏ quả trứng đặt trên mâm bạc mặt biển, có chim nhạn, hải âu chao liệng. Khi mặt trời đã lên cao, quanh giếng nước ngọt, người dân đảo đông vui gánh nước xuống thuyền chuẩn bị ra khơi; hình ảnh chị Châu Hoà Mãn địu con khiến nhà văn liên tưởng đến biển cả như người mẹ hiền.
Lời kết
Cô Tô là trang kí đẹp về biển đảo quê hương, kết tinh con mắt quan sát tinh tế và ngòi bút tài hoa của Nguyễn Tuân. Nắm vững tác giả, hoàn cảnh, bố cục và giá trị văn bản sẽ giúp em làm tốt câu hỏi đọc hiểu và bài văn phân tích cảnh bình minh trên biển Cô Tô.
Xem thêm:
- Soạn bài Cô Tô – Ngữ văn 6 Kết nối tri thức
- Soạn bài Hang Én – văn bản cùng Bài 5 Ngữ văn 6 KNTT
- Vẻ đẹp của Sông Đà (Nguyễn Tuân) – tác giả, tác phẩm
- Giới thiệu tác giả Nguyễn Tuân – tiểu sử, sự nghiệp