Hỏi một người Việt bất kỳ về thơ mùa thu, nhiều khả năng họ sẽ đọc được câu “con nai vàng ngơ ngác”. Lưu Trọng Lư (1911 hoặc 1912 – 1991) là tác giả câu thơ ấy: một trong những người cổ vũ Thơ mới sớm nhất, tác giả tập Tiếng thu (1939) và bài Nắng mới, người viết hơn ba mươi tập truyện trước Cách mạng, rồi nửa đời sau làm kịch và giữ chức Tổng Thư ký Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam.
Từ làng Cao Lao Hạ đến Quốc học Huế

| Tên | Lưu Trọng Lư (không thấy tài liệu nào ghi tên khai sinh khác) |
| Năm sinh – năm mất | 19/6/1911 (Wikipedia) hoặc 19/6/1912 (Thi nhân Việt Nam, Bảo tàng Văn học) – 10/8/1991 |
| Quê quán | Làng Cao Lao Hạ, xã Hạ Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình (nay thuộc tỉnh Quảng Trị) |
| Thể loại | Thơ, truyện ngắn, truyện dài, kịch nói, kịch thơ, cải lương, hồi ký |
| Tác phẩm tiêu biểu | Tiếng thu (1939), Tỏa sáng đôi bờ (1959), Người con gái sông Gianh (1966), hồi ký Mùa thu lớn (1978) |
| Giải thưởng | Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (truy tặng, đợt II, 2000) |
| Trong SGK | Nắng mới (Ngữ văn 8 Cánh diều, 8 KNTT, 10 CTST), Tiếng thu (Ngữ văn 12 CTST) |
Ông sinh trong một gia đình nhà Nho ở Quảng Bình; cha từng làm quan rồi bỏ về dạy học. Theo PGS Nguyễn Hữu Sơn (Viện Văn học) trên báo Giáo dục & Thời đại, năm 1925 ông vào Quốc học Huế, học đến năm thứ ba thì ra Hà Nội học trường tư, rồi từ năm 1931 bỏ học hẳn để dạy tư, viết báo, in sách. Anh ruột ông, Lưu Kỳ Linh, cũng làm thơ.
Năm sinh của ông là chỗ các tài liệu chưa thống nhất. Thi nhân Việt Nam, Bảo tàng Văn học Việt Nam và nhiều bài nghiên cứu ghi 1912; Wikipedia và lễ kỷ niệm 115 năm ngày sinh tổ chức năm 2026 tính theo 1911.
Người hưởng ứng sớm của Thơ mới: Phong hóa 1933, diễn đàn Quy Nhơn 1934
Khi Phan Khôi đưa bài Tình già ra năm 1932, Lưu Trọng Lư đã đáp lời gần như ngay lập tức. PGS Nguyễn Hữu Sơn dẫn tư liệu cho biết đầu năm 1933, báo Phong hóa (số 31, ngày 14/1/1933) đăng thơ mới của ông kèm một bức thư ký tên “cô Liên Hương” gửi Phan Khôi. Cùng năm ông in Người sơn nhân (truyện ngắn, thơ và một bài bàn về thơ mới) qua Ngân Sơn tùng thư, một nhà xuất bản nhỏ ông chủ trương ở Huế những năm 1933 – 1934.
Ông không chỉ làm thơ mà còn đi nói về thơ. Tạp chí Sông Hương ghi ngày 16/2/1934 ông diễn thuyết cổ vũ Thơ mới tại Học hội Quy Nhơn. Hai nhà nghiên cứu của Viện Văn học, Nguyễn Hữu Sơn và Lưu Khánh Thơ, đều gọi ông là một “chiến tướng” của phong trào, xông xáo cả trên mặt trận lý luận lẫn sáng tác. Chữ “kiện tướng” mà nhiều trang giới thiệu dùng cho ông cũng là cách gọi của giới nghiên cứu như thế, không phải một danh xưng cố định.
Tiếng thu và con nai vàng ngơ ngác
Tập Tiếng thu in năm 1939, gồm 52 bài. Bài thơ cùng tên chỉ chín dòng, ba khổ, bốn dòng cuối là đoạn được thuộc nhất:
Em không nghe rừng thu,
Lá thu kêu xào xạc,
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô?
Con nai từ đâu ra? Báo Thanh Niên (9/2026) dẫn hồi ký Mùa thu lớn (1978) của chính nhà thơ: hồi nhỏ ông ngồi học ở chái tây ngôi nhà, trên vách có bài ký chữ Hán của cha và hình một con nai; con vật ấy theo ông vào thơ. Họa sĩ Phạm Hầu vẽ con nai minh họa cho tập Tiếng thu, như ông kể trong hồi ký Nửa đêm sực tỉnh.
Bài thơ cũng từng gây tranh luận. Báo Đà Nẵng (2021, Hội Nhà văn đăng lại) kể Nguyễn Vỹ, trong Văn thi sĩ tiền chiến (1970), cho rằng nó giống một bài tanka Nhật Bản cũng có hình ảnh con nai đạp lá thu; Lưu Trọng Lư phản bác, và những người như Trần Đăng Khoa đều cho rằng hai bài khác nhau. Chu Văn Sơn có cả một bài phê bình về nhạc tính của Tiếng thu, nay là văn bản học trong Ngữ văn 10: xem Bản hòa âm ngôn từ trong Tiếng thu của Lưu Trọng Lư.
“Lư có làm thơ đâu”: Hoài Thanh và một hồn thơ mộng
Thi nhân Việt Nam tuyển của ông 11 bài, chỉ sau Xuân Diệu. Chương Hoài Thanh viết về ông (ghi tháng 3 năm 1941) vừa trìu mến vừa hóm hỉnh. Trả lời những người chê ông cẩu thả, không chịu gọt câu chữ, Hoài Thanh viết:
Lư có làm thơ đâu, Lư chỉ để lòng mình tràn lan trên mặt giấy.
Ở một đoạn khác, Hoài Thanh cho rằng quê hương thật của ông là cõi mộng: “Mộng! Đó mới là quê hương của Lư.” Trong câu văn nổi tiếng điểm mặt các hồn thơ mới ở tiểu luận mở đầu sách, chữ dành cho ông là “mơ màng”. Hoài Thanh còn kể ông đãng trí tới mức đọc lại thơ mình mà tưởng thơ Thế Lữ. Tính lơ đãng ấy có cả trong hồi ức của Huy Cận do Bảo tàng Văn học lưu: năm 1940, mừng bài Tràng giang lên báo, ông rủ bạn đi ăn phở rồi quên mang tiền, Huy Cận phải trả.
Hơn ba mươi tập truyện ít người còn nhắc
Ít ai biết người thơ “mơ màng” ấy cũng là một cây bút văn xuôi rất sung sức. Theo PGS.TS Lưu Khánh Thơ (Báo Văn hóa, 2024), chỉ trong gần mười năm trước Cách mạng ông in hơn ba mươi tập truyện ngắn, truyện dài. Một vài cái tên, theo năm của Bảo tàng Văn học: Người sơn nhân (1933), Huyền Không động (1935), Cô Nguyệt (1937), Con đười ươi (1938), Một tháng với ma (1940), Chiếc cáng xanh và Khói lam chiều (1941), Hổ với Mọi (1944). Năm 2024, Nhà xuất bản Văn học in bộ Lưu Trọng Lư toàn tập năm tập, gom lại cả mảng văn xuôi này.
Sau 1945: chiến khu Thừa Thiên, rồi sân khấu
Cách mạng tháng Tám, ông tham gia Văn hóa cứu quốc ở Huế, rồi theo kháng chiến ở Bình Trị Thiên và Liên khu IV; tập truyện vừa Chiến khu Thừa Thiên (1952) ra đời từ những năm ấy. Sau 1954 ông làm việc ở Bộ Văn hóa; Báo Văn hóa ghi từ năm 1958 ông về Vụ Nghệ thuật và chuyển hẳn sang viết cho sân khấu: kịch nói Xuân Vỹ Dạ, Nguyễn Văn Trỗi, kịch thơ Hồng Gấm (1973), các vở cải lương Nữ diễn viên miền Nam, Cây thanh trà. Ông là hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam (1957), giữ chức Tổng Thư ký Hội Nghệ sĩ Sân khấu, đi cùng Thế Lữ từ những ngày đầu của Hội.
Ông không bỏ thơ: Tỏa sáng đôi bờ (1959), Người con gái sông Gianh (1966), Từ đất này (1971), rồi những tập cuối đời Bâng khuâng (1988), Bao la sầu (1989). Năm 2000, cụm Tiếng thu, Tỏa sáng đôi bờ, Người con gái sông Gianh được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh (TTXVN, Bảo tàng Văn học).
Nắng mới và Tiếng thu trong sách giáo khoa
| Văn bản | Sách – bài học | Trên Văn VN |
|---|---|---|
| Nắng mới | Ngữ văn 8 Cánh diều, tập 1 – Bài 2 (Thơ sáu chữ, bảy chữ) | Soạn bài · Phân tích |
| Nắng mới | Ngữ văn 8 Kết nối tri thức, tập 2 – Bài 8 (thực hành đọc); Ngữ văn 10 Chân trời sáng tạo, tập 2 – Bài 6 (đọc mở rộng) | Soạn văn (CTST 10) · Tác giả – tác phẩm |
| Tiếng thu | Ngữ văn 12 Chân trời sáng tạo, tập 1 – Bài 1, đọc mở rộng theo thể loại | Soạn bài · Tác giả – tác phẩm · Dàn ý phân tích |
| Bản hòa âm ngôn từ trong Tiếng thu (Chu Văn Sơn, bàn về bài thơ) | Ngữ văn 10 Kết nối tri thức, tập 1 – Bài 2 | Soạn bài · Tóm tắt |
Nắng mới là bài thơ nhớ mẹ, cũng in trong tập Tiếng thu: mỗi lần nắng mới về, người con lại thấy hình mẹ phơi áo đỏ trước giậu. Các bài thơ khác của ông có trong tuyển tập thơ Lưu Trọng Lư.
Bà Tôn Lệ Minh và những người con
Vợ ông, bà Tôn Nữ Lệ Minh, người dòng dõi hoàng tộc Huế, giỏi đàn tranh; báo Công an Nhân dân kể mối tình này được nhà thơ viết lại trong hồi ký Nửa đêm sực tỉnh. Trong số các con của ông có đạo diễn điện ảnh Lưu Trọng Ninh (chính ông xác nhận cha mẹ mình khi trả lời VnExpress năm 2002), nhà thơ, nhà báo Lưu Trọng Văn và kiến trúc sư Lưu Trọng Hải.
Lưu Trọng Lư mất tại Hà Nội ngày 10/8/1991.
Xem thêm: