Soạn bài Vợ chồng A Phủ dưới đây bám theo phần Hướng dẫn học bài trong sách Ngữ văn 12 tập hai chương trình cũ (đoạn trích in từ trang 3, câu hỏi ở trang 14 – 15). Truyện ngắn của Tô Hoài không còn là văn bản đọc chính trong bộ sách Ngữ văn 2018, nhưng vẫn xuất hiện thường xuyên trong đề đọc hiểu, đề nghị luận văn học và các buổi ôn thi. Những văn bản khác của khối 12 các em xem ở chuyên mục Ngữ văn lớp 12.
Tìm hiểu chung về truyện Vợ chồng A Phủ
Trước khi trả lời câu hỏi, cần nắm chắc vài thông tin nền về tác giả, xuất xứ và cách chia đoạn trích.

Tác giả Tô Hoài
Tên thật của Tô Hoài (1920 – 2014) là Nguyễn Sen; quê nội ông thuộc Kim Bài, Thanh Oai (vùng Hà Đông cũ, nay thuộc Hà Nội), còn tuổi thơ gắn với làng Nghĩa Đô bên ngoại. Ông nổi tiếng từ trước Cách mạng tháng Tám nhờ Dế Mèn phiêu lưu ký, về sau viết đủ loại: tiểu thuyết, truyện ngắn, sách cho thiếu nhi, hồi kí. Ông am tường nếp sống của nhiều vùng đất, đặc biệt là miền núi Tây Bắc, và kể chuyện hóm hỉnh, nhiều chi tiết đời thường – đó là nét riêng dễ nhận ra ở ngòi bút này. Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật được trao cho ông năm 1996. Xem thêm trang tiểu sử nhà văn Tô Hoài.
Xuất xứ và hoàn cảnh sáng tác
- Năm 1952, nhà văn đi cùng các đơn vị bộ đội lên Tây Bắc trong đợt giải phóng vùng này; suốt chừng tám tháng, ông ăn ở cùng đồng bào nhiều dân tộc.
- Chuyến đi ấy cho ra đời tập Truyện Tây Bắc (1953) với ba truyện ngắn; được nhắc đến nhiều nhất là Vợ chồng A Phủ. Tập sách nhận giải Nhất của Giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam 1954 – 1955.
- Sách giáo khoa cũ chỉ trích phần đầu của truyện: quãng đời Mị, A Phủ sống ở Hồng Ngài cho tới đêm hai người cùng bỏ trốn.
Bố cục đoạn trích
Đoạn trích có thể chia làm 3 phần:
- Phần 1 (từ đầu đến “đến bao giờ chết thì thôi”): cảnh ngộ và đời sống câm lặng của Mị ở nhà thống lí.
- Phần 2 (tiếp đến “sinh sự đánh nhau ở Hồng Ngài”): đêm tình mùa xuân của Mị; A Phủ gây chuyện với A Sử, bị xử kiện và phải ở trừ nợ.
- Phần 3 (còn lại): A Phủ bị trói vì để hổ bắt mất bò; Mị cắt dây cứu A Phủ và cùng chạy trốn.
Một số tài liệu chia gộp phần 1 với đoạn đêm tình mùa xuân; cách chia nào cũng chấp nhận được miễn là bám theo mạch số phận hai nhân vật.
Hướng dẫn soạn bài Vợ chồng A Phủ (SGK Ngữ văn 12 cũ)
Phần Hướng dẫn học bài gồm 3 câu hỏi đọc hiểu và 1 bài luyện tập. Đề bài dưới đây ghi theo nội dung câu hỏi của sách, lời giải được viết lại gọn để các em dễ ôn.
Câu 1: Phân tích nhân vật Mị (trang 14)
Tìm hiểu số phận và tính cách của Mị qua: cảnh ngộ bị bắt về làm dâu gạt nợ, cuộc sống tủi cực ở nhà thống lí Pá Tra; diễn biến tâm trạng và hành động của Mị trong đêm tình mùa xuân và trong đêm cởi trói cho A Phủ.
Trả lời:
a) Cảnh ngộ của Mị
- Thời con gái: Mị xinh đẹp, thổi sáo hay, biết bao chàng trai tìm đến thổi sáo bên vách buồng cô. Cô hiếu thảo, chăm làm và có ý thức về quyền sống của mình. Khi Pá Tra muốn bắt cô làm dâu để xóa nợ, Mị nói với bố: “Bố đừng bán con cho nhà giàu”, tức là sẵn sàng lao động để trả nợ chứ không chấp nhận bị đem ra đổi chác.
- Nguyên nhân bất hạnh: món nợ từ thời cha mẹ cưới nhau, lãi mỗi năm một nương ngô, kéo dài tới khi mẹ mất vẫn chưa trả hết. Mị bị A Sử lừa bắt về “cúng trình ma”, thành người con dâu trừ nợ. Cường quyền (nhà thống lí) và thần quyền (tục trình ma) cùng trói buộc cô.
- Cuộc sống ở nhà Pá Tra: lao động quanh năm không nghỉ, từ hái thuốc phiện, giặt đay đến bẻ bắp, lúc nào trên tay cũng có bó đay. Nhà văn so sánh cô “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”; chính Mị cũng nghĩ mình chẳng hơn con trâu, con ngựa. Căn buồng có cửa sổ “một lỗ vuông bằng bàn tay”, nhìn ra chỉ thấy mờ mờ, không phân biệt được sương hay nắng – hình ảnh của một kiếp người bị giam hãm, mất cả cảm giác về thời gian.
- Tâm lí cam chịu: ban đầu Mị khóc suốt mấy tháng, toan tìm đến cái chết bằng nắm lá ngón nhưng thương bố nên quay về. Lâu dần, Mị “quen khổ rồi”, không còn nghĩ tới cái chết, sống như cái bóng.
b) Đêm tình mùa xuân: Mị nghĩ gì, làm gì
- Những tác động từ bên ngoài: mùa xuân Hồng Ngài rực váy hoa phơi trên đá, rộn tiếng cười đám trẻ đánh quay, văng vẳng tiếng sáo rủ bạn ngoài đầu núi. Ngày Tết, Mị lén uống rượu, uống ực từng bát như muốn nuốt cả những tủi nhục bao năm.
- Tâm hồn sống lại: hơi rượu và tiếng sáo đưa Mị trở về ngày trước. Mị thấy “phơi phới trở lại”, ý thức rằng mình còn trẻ và muốn đi chơi. Đi kèm niềm vui là nỗi đau tự nhận thức: Mị nghĩ nếu có nắm lá ngón lúc này sẽ ăn cho chết – ý nghĩ ấy chứng tỏ cô đã thôi vô cảm, đã biết đau trước cuộc sống không tình yêu.
- Hành động: Mị xắn mỡ thả vào đĩa đèn để đèn sáng thêm, sửa lại mái tóc và tìm chiếc váy hoa trên vách. Thắp sáng căn buồng tối là chi tiết giàu ý nghĩa: ánh sáng của khát vọng đang được thắp lên trong cuộc đời u tối.
- Bị vùi dập: A Sử trói đứng Mị vào cột, quấn cả tóc lên cột. Dẫu thân bị trói chặt, hồn Mị vẫn còn mải đuổi theo tiếng sáo, cho tới khi cơn đau kéo cô về thực tại. Mị thấy mình không bằng con ngựa ngoài tàu; nhớ chuyện ngày trước có người vợ bị trói cho tới chết ngay trong nhà này, Mị hoảng hốt cựa mình để biết mình còn sống. Nỗi sợ chết cho thấy khát vọng sống đã trở lại.
c) Đêm đông: Mị cắt dây cứu người
- Những đêm đông, Mị chỉ còn bầu bạn với bếp lửa. Thấy A Phủ bị trói, lúc đầu Mị vẫn dửng dưng ngồi sưởi, như thể trước mặt chỉ là một cái xác.
- Bước ngoặt đến khi Mị thấy “một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại” của A Phủ. Dòng lệ ấy gợi lại đêm Mị bị trói, khơi dậy lòng thương người cùng cảnh ngộ và nỗi căm giận: Mị nghĩ bọn chúng thật độc ác, người kia chẳng có tội gì mà phải chết.
- Lòng thương người lấn át nỗi sợ, Mị rút dao cắt dây mây cởi trói cho A Phủ. Đứng lặng một lúc trong bóng tối, rồi Mị vụt chạy theo, nói với A Phủ: “Ở đây thì chết mất”. Cởi trói cho người khác cũng là tự cởi trói cho mình.
⇒ Từ một người như đã chết về tinh thần, Mị dần hồi sinh và vùng lên tự giải thoát. Qua Mị, Tô Hoài cho thấy sức sống âm ỉ, khó bị dập tắt ở người lao động: bị đè nén đến đâu, khát vọng sống và tự do vẫn âm ỉ, gặp dịp sẽ bùng lên.
Câu 2: Nhân vật A Phủ và bút pháp miêu tả hai nhân vật (trang 15)
Anh (chị) có ấn tượng gì về tính cách nhân vật A Phủ? Bút pháp của nhà văn khi miêu tả Mị và A Phủ có gì khác nhau?
Trả lời:
a) Tính cách A Phủ
- Số phận: làng Háng-bla gặp dịch đậu mùa, bố mẹ và anh em A Phủ đều chết. Mới mười tuổi, cậu bị người làng đói ăn đem xuống đổi thóc với người Thái dưới cánh đồng, nhưng cậu bé gan bướng trốn lên núi, phiêu dạt đến Hồng Ngài và sống bằng nghề làm thuê. Nghèo, mồ côi, không ruộng, không bạc nên không lấy nổi vợ.
- Khỏe mạnh, giỏi việc: tự làm được lưỡi cày, cái cuốc, cày ruộng thạo, dám săn cả bò tót; khối cô gái trong làng để ý.
- Gan góc, ghét bất công: thấy A Sử đến phá đám chơi, A Phủ xông ra ném con quay vào mặt, nắm vòng cổ, đánh tới tấp con trai nhà quan. Chuỗi động từ mạnh diễn tả một tính cách quyết liệt, không sợ cường quyền.
- Bị áp bức nhưng không khuất phục: trong cuộc xử kiện kéo dài giữa khói thuốc phiện, A Phủ lặng lẽ chịu đòn, “im như cái tượng đá”. Bị bắt ở trừ nợ, A Phủ vẫn làm mọi việc phăng phăng; để hổ ăn mất bò thì đòi đi bắt hổ.
- Khát vọng sống mãnh liệt: bị trói đứng nhiều ngày, gần kiệt sức, nhưng vừa được cởi trói, A Phủ đã quật sức vùng chạy. Ở phần sau của truyện (không có trong đoạn trích), anh làm tiểu đội trưởng du kích ở Phiềng Sa.
b) Bút pháp miêu tả Mị và A Phủ
| Phương diện | Nhân vật Mị | Nhân vật A Phủ |
|---|---|---|
| Cách xuất hiện | Ngay câu mở đầu, qua cái nhìn của người ngoài: cô gái luôn cúi mặt, buồn rười rượi | Giữa truyện, qua một cảnh đánh nhau náo động |
| Điểm nhìn chủ yếu | Từ bên trong: kí ức, cảm giác, dòng suy nghĩ chập chờn lúc say, lúc tỉnh | Từ bên ngoài: hành động, cử chỉ, vài câu nói ngắn |
| Thủ pháp nổi bật | So sánh, vật hóa (con rùa, con trâu, con ngựa), biểu tượng căn buồng và lỗ cửa sổ | Chuỗi động từ mạnh, nhịp kể nhanh, chi tiết ngoại hình rắn rỏi |
| Hiệu quả | Làm hiện rõ sức sống tiềm tàng bị vùi lấp và quá trình hồi sinh | Làm nổi bật tính cách gan góc, ngang tàng, yêu tự do |
⇒ Hai số phận giống nhau nhưng hai cách khắc họa khác nhau, nhờ vậy mỗi nhân vật có một sức sống riêng trong trí nhớ người đọc.
Câu 3: Nét đặc sắc trong cách quan sát và miêu tả của Tô Hoài (trang 15)
Nêu những nét độc đáo trong việc quan sát, miêu tả phong tục tập quán của người dân miền núi; nhận xét về nghệ thuật miêu tả thiên nhiên, nghệ thuật kể chuyện và ngôn ngữ của tác phẩm.
Trả lời:
- Phong tục, tập quán: Tô Hoài đưa vào truyện nhiều nét sinh hoạt riêng của người Mông ở Hồng Ngài: ăn Tết khi gặt hái xong chứ không theo ngày tháng cố định, những trò ném pao, chơi quay, tiếng sáo tiếng khèn gọi bạn tình; tục cướp vợ và cúng trình ma; cảnh xử kiện kéo dài giữa năm bàn đèn thuốc phiện; lễ khấn ma chứng giám người vay nợ. Những chi tiết ấy vừa tạo màu sắc vùng cao, vừa phơi bày cách bọn chúa đất dùng hủ tục để trói buộc người nghèo.
- Thiên nhiên: không tả dài, chỉ chấm phá vài nét nhưng đầy chất thơ: gió rét làm vàng ửng những đồi cỏ gianh, những chiếc váy hoa phơi trên mỏm đá như con bướm sặc sỡ, ngọn lửa bập bùng trong đêm đông. Cảnh vật luôn gắn với tâm trạng nhân vật, nhất là mùa xuân đánh thức lòng ham sống của Mị.
- Kể chuyện: mở đầu bằng hình ảnh hiện tại rồi mới lùi về quá khứ để kể lai lịch Mị, tạo tò mò. Các tình tiết được đan cài khéo (đêm Mị bị trói và đêm A Phủ bị trói soi chiếu vào nhau), nhịp kể lúc chậm khi đi vào nội tâm, lúc nhanh khi tả hành động.
- Ngôn ngữ: giản dị, mang hơi thở miền núi qua cách nói, lời hát (bài hát gọi bạn, câu hát ném pao), lối so sánh gần gũi. Giọng người kể nhiều lúc hòa vào giọng nhân vật, nên trang văn vừa chân thực vừa trữ tình.
Luyện tập
Phần luyện tập yêu cầu các em vận dụng kết quả đọc hiểu để đánh giá giá trị tư tưởng của tác phẩm.
Câu 4 (Luyện tập): Giá trị nhân đạo của Vợ chồng A Phủ (trang 15)
Qua số phận nhân vật Mị và A Phủ, hãy phát biểu ý kiến về giá trị nhân đạo của tác phẩm.
Trả lời:
Có thể nói về tinh thần nhân đạo của truyện qua bốn điểm:
- Cảm thông sâu sắc với nỗi khổ của người lao động miền núi: Mị làm dâu trừ nợ, bị vắt kiệt sức lực và bị đày đọa tinh thần đến mức tê dại; A Phủ mồ côi, bị bán, bị phạt vạ, rồi thành người ở trừ nợ “đời mày, đời con, đời cháu”. Nhà văn nhìn họ bằng con mắt xót thương chứ không lạnh lùng ghi chép.
- Lên án cái ác: qua bố con Pá Tra, truyện tố cáo sự tham lam (cho vay nặng lãi, bắt người trừ nợ), tàn bạo (trói người đến chết) và cách dùng hủ tục, thần quyền để giam hãm con người.
- Phát hiện và ngợi ca vẻ đẹp tiềm ẩn: Tô Hoài nhìn thấy dưới vẻ câm lặng của Mị là lòng ham sống chưa tắt, ở A Phủ là sự gan góc và tình yêu tự do. Ông cũng trân trọng tình thương giữa những người cùng cảnh: những giọt lệ trên má A Phủ đánh thức lòng thương người ở Mị.
- Mở ra con đường giải phóng: từ hành động tự phát cứu nhau, hai nhân vật tìm đến Phiềng Sa, gặp cán bộ cách mạng và đứng lên bảo vệ bản làng. Khác với nhiều truyện hiện thực trước 1945 thường kết thúc bế tắc, số phận nhân vật ở đây được hướng tới tương lai.
Đoạn văn tham khảo: Cái nhìn nhân đạo của truyện trước hết nằm ở tấm lòng nhà văn dành cho những con người nhỏ bé nơi rẻo cao. Tô Hoài không chỉ kể lại nỗi khổ của Mị, của A Phủ mà còn nhìn thấu vào bên trong họ, nơi khát vọng sống vẫn le lói như than âm ỉ dưới lớp tro. Cảnh Mị thắp đèn chuẩn bị đi chơi, cảnh Mị cắt dây trói rồi chạy theo A Phủ cho thấy niềm tin của nhà văn: con người có thể bị chà đạp nhưng không dễ bị giết chết phần người. Từ niềm tin ấy, câu chuyện kết lại bằng một lối thoát có thật cho những số phận tưởng không bao giờ được giải phóng.
Kết luận
Soạn kĩ ba câu hỏi đọc hiểu và bài luyện tập sẽ giúp các em nắm được hai mạch chính của truyện: số phận tủi cực mà vẫn âm ỉ sức sống của người lao động Tây Bắc, cùng tài quan sát phong tục, miêu tả tâm lí của Tô Hoài. Khi ôn thi, nên học thuộc vài chi tiết đắt (căn buồng có lỗ vuông, chiếc đĩa đèn, dòng lệ trên má A Phủ) để đưa vào bài viết.
Xem thêm:
- Mở bài Vợ chồng A Phủ hay nhất
- Kết bài Vợ chồng A Phủ hay nhất
- Quan điểm sáng tác và phong cách nghệ thuật của Tô Hoài
- Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài) – Ngữ văn 12: Tác giả, tác phẩm, bố cục, nội dung
- Tóm tắt Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài) ngắn gọn, đầy đủ – 8 mẫu hay nhất
- Soạn bài Thuốc (Lỗ Tấn) – Ngữ văn 12 chương trình cũ
- Soạn bài Số phận con người (Sô-lô-khốp) – Ngữ văn 12 chương trình cũ