Vợ chồng A Phủ là thiên truyện được biết đến rộng rãi hơn cả trong số ba truyện của tập Truyện Tây Bắc (Tô Hoài), từng được học ở sách Ngữ văn 12 tập hai chương trình cũ và đến nay vẫn là ngữ liệu quen thuộc trong đề đọc hiểu, nghị luận văn học. Bài viết gom lại những gì cần nắm trước khi phân tích: nội dung đoạn trích, tác giả, xuất xứ, hoàn cảnh ra đời, cách chia đoạn, các giá trị nổi bật, kèm sơ đồ tư duy và hai mẫu tóm tắt. Các bài khác của khối 12 có ở chuyên mục Ngữ văn lớp 12.

Nội dung văn bản Vợ chồng A Phủ
Mở đầu đoạn trích là dáng một cô gái luôn cúi gằm mặt, ngồi quay sợi gần tàu ngựa nhà thống lí Pá Tra. Người kể lùi về quá khứ để giải thích: cô là Mị, con dâu gạt nợ. Hồi cưới nhau, bố mẹ Mị mượn tiền của nhà thống lí; món nợ còn dang dở thì A Sử đã lừa bắt Mị về “cúng trình ma”. Mị từng định ăn lá ngón để chết nhưng thương bố nên quay về; lâu dần cô sống câm lặng, lầm lũi trong căn buồng chỉ có một ô cửa nhỏ.
Xuân về, men rượu ngày Tết cùng tiếng sáo rủ bạn tình đánh thức tuổi trẻ trong Mị. Cô thắp đèn, quấn tóc, định đi chơi thì A Sử trói đứng cô vào cột suốt đêm. Cũng đêm ấy, A Sử phá đám chơi ở làng bên, bị A Phủ đánh. A Phủ – chàng trai không cha không mẹ, sức vóc hơn người và rất gan – bị bắt về xử kiện, bị xử nộp một khoản vạ lên tới trăm bạc và phải ở đợ trả nợ cho Pá Tra.
Một con bò bị hổ vồ, thế là A Phủ bị trói đứng nhiều ngày. Một đêm đông, dòng lệ lăn trên khuôn mặt hốc hác của A Phủ làm Mị thương người, thương mình, cắt dây cởi trói rồi vụt chạy theo anh. Họ dìu nhau xuống dốc núi, rời Hồng Ngài. Phần sau của truyện (sách lược thuật) kể họ dừng chân ở Phiềng Sa và nên duyên vợ chồng; gặp A Châu, người cán bộ cách mạng, A Phủ được giác ngộ và làm tiểu đội trưởng du kích.
Văn bản còn trong thời hạn bảo hộ bản quyền nên ở đây chỉ tóm lược; các em đọc kĩ đoạn trích trong sách và tham khảo bài mở bài Vợ chồng A Phủ để luyện viết.
Thông tin tác giả Tô Hoài
Nhà văn Tô Hoài (1920 – 2014) có tên khai sinh Nguyễn Sen, chào đời ngày 27/9/1920. Quê nội ông ở thôn Cát Động, Kim Bài, Thanh Oai (thuộc Hà Đông trước đây, nay là Hà Nội), nhưng ông lớn lên ở làng Nghĩa Đô bên quê ngoại, trong một gia đình làm nghề thủ công. Thời trẻ ông làm nhiều nghề để kiếm sống, từ dạy trẻ, bán hàng đến kế toán hiệu buôn.
Ông viết từ trước Cách mạng tháng Tám; Dế Mèn phiêu lưu ký (1941) giúp tên tuổi ông đến với nhiều thế hệ độc giả. Sau năm 1945, Tô Hoài làm báo, đi nhiều vùng kháng chiến và giữ nhiều cương vị trong Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Văn nghệ Hà Nội. Ông để lại một khối lượng tác phẩm rất lớn, trải dài từ truyện thiếu nhi, truyện ngắn, tiểu thuyết đến hồi kí: Truyện Tây Bắc, O chuột, Miền Tây, Chuyện cũ Hà Nội, Cát bụi chân ai, Ba người khác…
Văn Tô Hoài có mấy nét dễ nhận ra: ông thuộc lòng nếp sống, lề thói của nhiều miền đất, nhất là miền núi Tây Bắc và vùng ven đô Hà Nội; cách kể chuyện tự nhiên, hóm hỉnh; ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhiều chi tiết sinh hoạt đời thường. Năm 1996, Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (đợt I) được trao cho ông.
Muốn tìm hiểu kĩ hơn, các em xem trang tiểu sử nhà văn Tô Hoài và bài phong cách nghệ thuật của Tô Hoài.
Thông tin tác phẩm Vợ chồng A Phủ
Các mục dưới đây trả lời những câu hỏi thường gặp nhất khi học truyện ngắn này.
Vợ chồng A Phủ được viết năm nào, in ở đâu?
Tô Hoài viết truyện năm 1952, sau đó in vào tập Truyện Tây Bắc (1953) – cuốn sách có ba truyện ngắn: Mường Giơn, Cứu đất cứu mường và Vợ chồng A Phủ, và đoạt giải Nhất của Giải thưởng Hội Văn nghệ Việt Nam 1954 – 1955.
Hoàn cảnh sáng tác Vợ chồng A Phủ
Năm 1952, Tô Hoài theo các đơn vị quân đội lên Tây Bắc khi vùng này được giải phóng. Trong khoảng tám tháng, ông sống gần gũi bà con nhiều dân tộc, từ những vùng du kích trên núi cao tới các bản làng vừa giải phóng. Những gì mắt thấy tai nghe về cuộc sống cực nhọc của người dân dưới ách chúa đất và thực dân, cùng tình cảm gắn bó với mảnh đất ấy, đã thành chất liệu cho Truyện Tây Bắc. Về sau, truyện được chuyển thể thành phim cùng tên do Mai Lộc đạo diễn, chính Tô Hoài viết kịch bản.
Thể loại, phương thức biểu đạt, ngôi kể
- Thể loại: truyện ngắn.
- Phương thức biểu đạt chính: tự sự, kết hợp miêu tả và biểu cảm.
- Ngôi kể: ngôi thứ ba; người kể nhiều lúc nhập vào điểm nhìn của Mị để thuật lại kí ức, cảm giác của nhân vật.
Bố cục Vợ chồng A Phủ có mấy phần?
Toàn truyện chia 2 phần lớn: phần một là quãng đời của hai người ở Hồng Ngài; phần hai kể cuộc sống của họ ở Phiềng Sa và con đường đến với cách mạng. Đoạn trích trong sách thuộc phần một, có thể chia làm 3 đoạn:
- Phần 1 (từ đầu đến “đến bao giờ chết thì thôi”): cảnh ngộ của Mị ở nhà thống lí Pá Tra.
- Phần 2 (tiếp đến “sinh sự đánh nhau ở Hồng Ngài”): đêm tình mùa xuân, rồi A Phủ đánh con trai thống lí, bị xử kiện, thành người ở đợ.
- Phần 3 (còn lại): A Phủ bị trói, Mị cắt dây cứu A Phủ và hai người cùng trốn khỏi Hồng Ngài.
Ý nghĩa nhan đề Vợ chồng A Phủ
Nhan đề gọi tên kết cục của câu chuyện: hai thân phận tôi đòi dưới mái nhà Pá Tra, một người là con dâu gạt nợ, một người là đứa ở trừ nợ, đã cứu nhau rồi nên duyên. Cụm từ “vợ chồng” vì thế mang ý nghĩa của sự giải phóng: Mị chỉ thực sự có hạnh phúc lứa đôi khi thoát khỏi cuộc hôn nhân cưỡng ép với A Sử. Nhan đề cũng hé lộ hướng đi mở của truyện, từ cảnh tù túng đến cuộc sống mới của hai người lao động.
Giá trị nội dung
- Giá trị hiện thực: phơi bày cảnh sống khổ nhục của đồng bào vùng cao Tây Bắc khi bị chúa đất cai trị (cho vay nặng lãi, bắt người trừ nợ, trói người, xử kiện theo luật của kẻ có quyền) và hủ tục, thần quyền đè nặng lên con người.
- Giá trị nhân đạo: xót thương Mị, A Phủ; lên án cái ác; phát hiện và trân trọng lòng ham sống âm ỉ, niềm khao khát tự do, tình thương giữa những người cùng cảnh ngộ; chỉ ra con đường tự giải phóng gắn với cách mạng.
Giá trị nghệ thuật
- Đi sâu vào nội tâm rất tinh tế, nhất là ở Mị: những dòng kí ức, cảm giác lúc mê lúc tỉnh được thể hiện tự nhiên, thuyết phục.
- Xây dựng nhân vật bằng hai bút pháp khác nhau: Mị chủ yếu qua nội tâm, A Phủ chủ yếu qua hành động.
- Am hiểu và tái hiện sinh động phong tục miền núi: Tết sau mùa gặt, đánh pao, thổi sáo gọi bạn, tục cướp vợ, cảnh xử kiện.
- Cách kể chuyện linh hoạt, mở đầu bằng hiện tại rồi lùi về quá khứ; chi tiết được chọn lọc, giàu tính biểu tượng (căn buồng có ô cửa nhỏ, chiếc đĩa đèn, ngọn lửa đêm đông).
- Ngôn ngữ giản dị, mang sắc thái miền núi, nhiều đoạn giàu chất thơ.
Sơ đồ tư duy Vợ chồng A Phủ
Sơ đồ dưới đây tóm gọn sáu nội dung cần nhớ: tác giả, hoàn cảnh ra đời, thể loại, cách chia đoạn, nội dung và nghệ thuật.

Tóm tắt Vợ chồng A Phủ
Hai mẫu tóm tắt ngắn dưới đây giúp các em nhớ nhanh mạch truyện; muốn có nhiều cách tóm tắt hơn (theo nhân vật, theo bố cục, chi tiết), các em xem bài tóm tắt riêng của tác phẩm.
Mẫu 1 – Tóm tắt Vợ chồng A Phủ ngắn nhất
Mị, cô gái Mông trẻ đẹp ở Hồng Ngài, bị bắt làm dâu trừ nợ cho nhà Pá Tra và sống như một cái bóng. A Phủ, chàng trai mồ côi vì đánh A Sử mà phải ở đợ cho nhà Pá Tra, rồi bị trói đứng vì để hổ vồ mất bò. Một đêm đông, Mị cắt dây giải thoát cho A Phủ, rồi cả hai cùng trốn đến Phiềng Sa, thành vợ chồng và theo cách mạng.
Mẫu 2 – Tóm tắt Vợ chồng A Phủ đầy đủ
Vì món nợ cha mẹ vay để cưới nhau, Mị bị cậu con trai nhà thống lí là A Sử lừa bắt về cúng ma, thành nàng dâu trừ nợ. Mị toan ăn lá ngón để chết nhưng thương bố nên quay về, rồi quen dần với kiếp sống nô lệ, ngày càng câm lặng. Đêm tình mùa xuân, men rượu và tiếng sáo khiến Mị muốn đi chơi; A Sử liền lấy dây trói đứng cô vào cột nhà. Cùng đêm ấy, A Sử phá đám chơi làng bên và bị A Phủ đánh. A Phủ bị bắt, bị xử phạt, không có tiền nộp vạ nên đành vay của Pá Tra và ở đợ trả nợ. Sau lần để hổ vồ mất bò, anh bị trói giữa nhà nhiều ngày liền. Đêm đông, bắt gặp dòng lệ lăn trên má A Phủ, Mị nhớ lại cảnh mình bị trói, thương người và cắt dây cởi trói, rồi cùng anh bỏ trốn. Ở Phiềng Sa, họ thành một gia đình; A Phủ được A Châu, người cán bộ cách mạng, dìu dắt, làm tiểu đội trưởng du kích; vợ chồng anh cùng dân bản đánh giặc.
Lời kết
Nắm chắc xuất xứ, thời điểm ra đời, cách chia đoạn và hai giá trị lớn của Vợ chồng A Phủ là nền tảng để làm tốt các đề về Mị, A Phủ hay về tinh thần nhân đạo. Khi viết, hãy kết hợp những chi tiết đắt của truyện với hiểu biết về Tô Hoài – người viết rất giỏi về phong tục và về những con người bình thường.
Xem thêm: