Phù du là con côn trùng bé xíu, ấu trùng sống dưới nước, khi trưởng thành chỉ sống vài giờ đến một hai ngày; từ đó nghĩa bóng của phù du là ngắn ngủi, chóng tàn. Nói “kiếp phù du” là ví đời người mong manh như đời con vật ấy. Riêng “sinh vật phù du” trong sách Sinh học lại là một nghĩa khác hẳn.
| Nghĩa | (1) Loài côn trùng sống rất ngắn; (2) ngắn ngủi, chóng qua |
| Gốc từ | Hán Việt 蜉蝣, hai chữ đều có bộ trùng (sâu bọ) |
| Loại từ | Danh từ (con phù du); tính từ (cuộc đời phù du) |
| Sắc thái | Văn chương, buồn, thường dùng khi suy ngẫm về thân phận |

Phù du là con gì?
Phù du là tên chung của một bộ côn trùng mà giới khoa học gọi là Ephemeroptera, có hơn ba nghìn loài. Ấu trùng của chúng sống trong nước ngọt sạch, có loài sống dưới nước đến vài năm. Đến lúc lột xác bay lên, con trưởng thành lại chỉ sống được vài giờ, có loài chưa tới năm phút. Thiều Chửu giảng con phù du là con vật sáng sinh chiều chết, và người xưa mượn chính hình ảnh đó để nói về đời người.
Ven sông Hồng có một loài thuộc bộ này mà dân gọi là con vờ, hay vật vờ, vì chúng bay chập chờn sát mặt nước. Vờ chỉ nở rộ vài tiếng lúc tờ mờ sáng vào mấy tháng đầu năm âm lịch rồi biến mất, nên người làng phải canh đúng giờ mới vớt được.
Từ nghĩa con vật mà có nghĩa thứ hai, nghĩa tính từ: phù du là ngắn ngủi, không bền. Ví dụ: Danh lợi chỉ là chuyện phù du, sống tử tế mới là cái còn lại. Hay: Có những cơn sốt trên mạng phù du đến mức qua một tuần đã không ai nhắc.
蜉蝣 và 浮游: hai chữ cùng đọc phù du
Viết ra chữ Hán mới thấy tiếng Việt đang dùng chung một cách đọc cho hai từ khác nhau.
蜉蝣 là con phù du. Cả hai chữ đều có bộ 虫 (trùng), báo hiệu đây là tên một loài sâu bọ. Đây là chữ trong “kiếp phù du”.
浮游 gồm phù (nổi) và du (bơi, trôi đi), nghĩa là trôi nổi, nay đây mai đó. Hai chữ đều có bộ thủy (nước). Thuật ngữ sinh vật phù du trong Sinh học dịch từ chữ này: đó là những sinh vật nhỏ trôi theo dòng nước, như tảo, giáp xác tí hon, ấu trùng cá, tiếng Anh là plankton. Chúng chẳng liên quan gì đến tuổi thọ ngắn.
Chuyện chữ ở tiếng Anh cũng thú vị. Tên khoa học Ephemeroptera có gốc Hy Lạp ephemeros, nghĩa là “chỉ kéo dài một ngày”, cùng gốc với tính từ ephemeral (phù du, chóng tàn). Hai nền văn hóa cách xa nhau mà cùng lấy một con côn trùng làm biểu tượng cho cái chóng qua. Muốn hiểu thêm lớp từ gốc Hán như phù du thì có bài đặc điểm lớp từ mượn tiếng Hán.
Kiếp phù du trong văn chương
Hình ảnh này đi vào thơ văn từ rất xưa. Kinh Thi có bài mang tên Phù du. Trong Tiền Xích Bích phú, Tô Thức ví thân người gửi giữa trời đất như con phù du, nhỏ bé như hạt thóc giữa biển xanh, để rồi nhân vật ngồi trên thuyền ngậm ngùi vì đời mình ngắn còn dòng Trường Giang thì chảy mãi.
Văn học trung đại Việt Nam cũng dùng nhiều cụm như cảnh phù du, kiếp phù du, bóng phù du, thường đi cùng nỗi buồn về lẽ đời ngắn ngủi. Nhiều người đọc đến đây sẽ thấy gần với tư tưởng nhà Phật cho rằng vạn vật luôn biến đổi, điều có ở bài cách nhà Phật nhìn sự đổi thay của vạn vật.
Viết văn hiện đại, có thể dùng phù du nhẹ nhàng hơn: Tuổi học trò tưởng dài mà hóa ra phù du, chớp mắt đã đến ngày chụp ảnh kỉ yếu.
Phù du, phù dung, phù phiếm: ba chữ khác nhau
| Từ | Nghĩa | Ví dụ |
|---|---|---|
| Phù du | Ngắn ngủi, chóng tàn (gốc: con côn trùng sống rất ngắn) | Kiếp phù du |
| Phù dung | Tên một loài hoa nở sớm, đổi màu trong ngày rồi tàn | Đóa phù dung trước hiên |
| Phù phiếm | Viển vông, hão huyền, không thiết thực | Những ham muốn phù phiếm |
| Phù vân | Mây nổi; ví điều trôi qua, không đáng bận tâm | Coi danh lợi như phù vân |
Đồng nghĩa với phù du (nghĩa bóng) có ngắn ngủi, chóng vánh, mong manh, thoáng chốc, sớm nở tối tàn. Trái nghĩa là bền vững, trường tồn, vĩnh cửu. Lỗi hay gặp nhất là viết “kiếp phù dung” khi muốn nói đời người ngắn ngủi: hoa phù dung cũng chóng tàn thật, nhưng thành ngữ quen dùng là kiếp phù du.
Kiếp phù du, con phù du và sinh vật phù du
Kiếp phù du là gì?
Là cách nói ví đời người ngắn ngủi, mong manh như đời con phù du chỉ sống vài giờ. Cụm này thường mang giọng ngậm ngùi, có khi nhắc người ta đừng quá ham danh lợi.
Con phù du là con gì?
Là côn trùng thuộc bộ Phù du, thân mảnh, cánh mỏng, đuôi dài. Ấu trùng sống dưới nước khá lâu, con trưởng thành chỉ sống từ vài phút đến một hai ngày. Ở một số vùng ven sông Hồng gọi là con vờ.
Sinh vật phù du là gì?
Là những sinh vật nhỏ sống trôi nổi theo dòng nước, như tảo và giáp xác tí hon, làm thức ăn cho nhiều loài cá. Chữ phù du ở đây là 浮游 (trôi nổi), khác với chữ chỉ con côn trùng.
Phù du nghĩa là gì khi nói về tình cảm?
Một mối tình phù du là mối tình đến nhanh, tan nhanh, không để lại gắn bó lâu dài. Dùng với ý này nên cân nhắc, vì từ khá nặng, dễ khiến người nghe chạnh lòng.