Mở bài Ánh trăng là đoạn dẫn vào bài nghị luận về bài thơ năm chữ Nguyễn Duy viết năm 1978 tại Thành phố Hồ Chí Minh, ba năm sau ngày đất nước thống nhất. Tác phẩm thuộc chương trình Ngữ văn 9 cũ (sách giáo khoa trước năm 2018) và vẫn là đề quen thuộc khi ôn thi vào lớp 10. Mở bài cần nêu đúng tác giả, hoàn cảnh và lời nhắc về đạo lí thủy chung với quá khứ. Dưới đây là 12 mẫu viết sẵn.

Cách viết mở bài Ánh trăng
- Giới thiệu đúng tác giả, hoàn cảnh: Nguyễn Duy (sinh 1948), tên khai sinh Nguyễn Duy Nhuệ, quê Thanh Hóa, người lính làm thơ đi qua những năm chống Mĩ; bài thơ viết năm 1978 tại Thành phố Hồ Chí Minh, sau in trong tập Ánh trăng, tập thơ đoạt giải A của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1984.
- Nắm mạch bài thơ: trăng gắn bó với tuổi nhỏ và những năm chiến tranh; về thành phố, con người dần quên trăng; một lần mất điện, gặp lại trăng và giật mình tự vấn.
- Câu cuối mở bài nêu đúng vấn đề của đề: ý nghĩa cả bài, hình ảnh vầng trăng hay khổ thơ cuối giàu triết lí.
- Bài thơ còn được bảo hộ bản quyền: mỗi mẫu trích tối đa hai dòng, chép đúng chữ; tránh những dòng có nhiều bản chép khác nhau.
Mở bài trực tiếp Ánh trăng
Mẫu 1 – trực tiếp, ngắn gọn
Ánh trăng của Nguyễn Duy là bài thơ năm chữ giản dị như một câu chuyện kể, ra đời năm 1978, khi hòa bình vừa trở lại được ba năm. Qua cuộc gặp lại bất ngờ với vầng trăng giữa thành phố, nhà thơ tự nhắc mình và nhắc mọi người về lẽ sống thủy chung, không được quên những năm tháng gian lao, nghĩa tình đã qua.
Mẫu 2 – trực tiếp, đủ tác giả, hoàn cảnh, vấn đề
Nguyễn Duy, tên khai sinh là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh năm 1948 ở Thanh Hóa, thuộc thế hệ nhà thơ khoác áo lính, lớn lên cùng những năm đánh Mĩ. Năm 1978, khi đang sống ở Thành phố Hồ Chí Minh, ông viết bài thơ Ánh trăng, sau được chọn đặt tên cho cả tập thơ, tập thơ đoạt giải A của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1984. Từ một tình huống rất đời thường là lần mất điện trong căn phòng nơi đô thị, bài thơ gợi lại quãng đời từng gần gũi thiên nhiên, gần gũi đồng đội, và gửi gắm lời tự vấn sâu sắc về cách con người đối xử với những ân tình cũ.
Mẫu 3 – trực tiếp, nêu giá trị nội dung và nghệ thuật
Không cần lời lẽ cao xa, bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy vẫn khiến bao thế hệ bạn đọc lặng người. Thể thơ năm chữ, giọng kể thủ thỉ như lời tâm sự, kết cấu đi từ quá khứ tới hiện tại rồi lắng lại trong một khoảnh khắc giật mình, tất cả làm cho bài thơ vừa tự nhiên vừa thấm thía. Đằng sau vầng trăng tròn đầy là bài học về biết ơn, về giữ trọn nghĩa tình, điều mà mỗi người, nhất là khi đã có cuộc sống đủ đầy, rất dễ lãng quên.
Mở bài gián tiếp Ánh trăng
Mẫu 4 – đi từ đề tài trăng trong thơ ca
Từ ca dao đến thơ Đường, từ thơ Nguyễn Du đến những bài thơ trăng của Hồ Chí Minh, vầng trăng luôn là người bạn quen thuộc của thi nhân. Mỗi thời đại, mỗi nhà thơ lại tìm thấy ở trăng một vẻ đẹp riêng. Đến Nguyễn Duy, trăng không chỉ để ngắm mà còn để soi lòng. Trong bài thơ Ánh trăng, vầng trăng hóa thành hình bóng của quá khứ nghĩa tình, lặng lẽ nhìn con người và nhắc họ đừng quên những tháng ngày từng sống chan hòa giữa thiên nhiên và đồng đội.
Mẫu 5 – đi từ cuộc sống sau chiến tranh
Chiến tranh qua đi, những người lính từ rừng sâu trở về thành phố, bắt đầu một cuộc sống đủ đầy hơn với ánh điện, cửa kính, nhà cao tầng. Nhưng cũng chính lúc ấy, nhiều người dần quên đi những tháng năm gian khổ đã cùng chia ngọt sẻ bùi. Nguyễn Duy đã nhận ra điều đó từ chính mình và viết bài thơ Ánh trăng năm 1978. Với hình ảnh vầng trăng có lúc trở nên xa lạ, “như người dưng qua đường”, bài thơ là một lời tự thú chân thành và một lời cảnh tỉnh nhẹ nhàng mà sâu sắc.
Mẫu 6 – đi từ đạo lí uống nước nhớ nguồn
Uống nước nhớ nguồn là đạo lí ngàn đời của người Việt, nhưng giữ được đạo lí ấy trong cuộc sống thường ngày không phải điều dễ dàng. Có khi chính những người từng đi qua gian khổ lại vô tình quên đi quá khứ khi cuộc sống đã đổi thay. Bài thơ Ánh trăng của Nguyễn Duy đặt ra vấn đề ấy bằng một câu chuyện nhỏ về vầng trăng và người lính. Đọc bài thơ, ta không thấy lời răn dạy nào, chỉ thấy một con người thành thật nhìn lại mình, và chính sự thành thật ấy khiến người đọc phải suy ngẫm.
Mẫu 7 – đi từ hồn thơ Nguyễn Duy
Người đọc biết đến Nguyễn Duy từ những năm chống Mĩ qua bài thơ Tre Việt Nam, với giọng thơ mộc mạc, đậm chất dân gian. Sau chiến tranh, thơ ông lắng lại, thiên về chiêm nghiệm những được mất của đời người. Ánh trăng là bài thơ tiêu biểu cho chặng đường ấy: lời thơ vẫn giản dị như lời ăn tiếng nói hằng ngày, nhưng ẩn sau đó là những suy tư nghiêm khắc về lối sống. Bài thơ cho thấy một Nguyễn Duy chân thành, dám tự soi mình và nói thật về mình.
Mẫu 8 – đi từ hình ảnh vầng trăng tình nghĩa
Với người lính từng sống giữa rừng, vầng trăng không chỉ là cảnh vật mà là người bạn chia sẻ những đêm hành quân, những giấc ngủ tạm bợ. Bởi vậy, Nguyễn Duy từng tin chắc: “ngỡ không bao giờ quên / cái vầng trăng tình nghĩa”. Chữ ngỡ ấy đã báo trước một sự thật đau lòng mà bài thơ Ánh trăng sẽ kể tiếp: con người hóa ra có thể quên. Từ khoảng cách giữa điều tưởng chắc chắn và điều đã xảy ra, bài thơ mở ra một lời tự vấn day dứt về sự thủy chung.
Mẫu 9 – đi từ một câu hỏi gợi mở
Có bao giờ bạn chợt nhận ra mình đã lâu lắm không ngẩng lên nhìn trăng? Câu hỏi tưởng nhỏ ấy lại là điểm khởi đầu cho bài thơ sâu sắc bậc nhất của Nguyễn Duy. Trong Ánh trăng, nhà thơ kể lại khoảnh khắc chính mình gặp lại vầng trăng sau những năm tháng mải mê với ánh điện thành phố. Cuộc gặp ấy khiến ông nhìn lại cả một quãng đời, và giúp người đọc hiểu rằng điều đáng sợ nhất không phải là mất đi quá khứ mà là vô tình quay lưng với nó.
Mở bài Ánh trăng theo đề thường gặp
Mẫu 10 – đề phân tích hai khổ thơ đầu
Hai khổ thơ đầu của Ánh trăng là những dòng hồi tưởng về quá khứ gắn bó giữa con người và vầng trăng. Từ tuổi thơ gắn với cánh đồng, dòng sông, biển cả, đến những năm cầm súng giữa rừng, trăng luôn ở bên Nguyễn Duy như một người bạn tri âm. Cuộc sống khi ấy giản dị, hồn nhiên đến mức con người hòa làm một với thiên nhiên. Phân tích hai khổ thơ này, ta sẽ hiểu vì sao sự lãng quên ở phần sau của bài thơ lại khiến nhà thơ day dứt đến thế.
Mẫu 11 – đề phân tích khổ thơ đèn điện tắt
Bài thơ Ánh trăng chuyển hướng đột ngột ở khổ thứ tư: “Thình lình đèn điện tắt”. Chỉ một sự cố rất thường gặp nơi thành phố, nhưng nó buộc người trong căn phòng tối phải mở tung cửa sổ, và vầng trăng tròn bỗng hiện ra trước mặt. Nguyễn Duy đã khéo léo dùng tình huống bất ngờ ấy làm bước ngoặt của cảm xúc, để từ đó con người đối diện với quá khứ mà mình đã lãng quên. Phân tích khổ thơ, ta thấy rõ nghệ thuật kể chuyện giản dị mà giàu kịch tính của bài thơ.
Mẫu 12 – đề phân tích khổ thơ cuối
Nếu những khổ đầu của Ánh trăng là lời kể, thì khổ thơ cuối là nơi Nguyễn Duy gửi gắm suy ngẫm sâu xa nhất. Vầng trăng vẫn tròn đầy như xưa, không trách móc, không giận hờn; chính sự im lặng bao dung ấy lại khiến con người giật mình nhận ra sự vô tình của mình. Khổ thơ ngắn mà chứa cả một triết lí sống: phải biết trân trọng và thủy chung với quá khứ. Bàn về khổ thơ này cũng là bàn về chiều sâu tư tưởng của toàn bài.
Nên chọn mẫu mở bài Ánh trăng nào?
Mười hai mẫu mở bài Ánh trăng trên giúp em dẫn vào bài thơ của Nguyễn Duy theo nhiều cách: giới thiệu thẳng tác giả và hoàn cảnh năm 1978, đi từ đề tài trăng trong thơ ca, từ cuộc sống sau chiến tranh, từ đạo lí uống nước nhớ nguồn hay từ một câu hỏi gợi mở. Đề cảm nhận cả bài nên chọn mẫu trực tiếp hoặc gián tiếp; đề một khổ thơ thì dùng mẫu theo đề. Nhớ chép đúng câu thơ vì bài thơ còn được bảo hộ bản quyền.
Xem thêm: