Lộc là chồi lá non mới nhú trên cành; theo quan niệm xưa, lộc còn là của cải, điều may do trời hay thần linh ban cho. Hai nghĩa ấy gặp nhau trong tục hái lộc đầu năm: mang một nhành non về nhà để mong cả năm có lộc. Tài lộc, lộc trời, bổng lộc đều xoay quanh nghĩa thứ hai.
| Nghĩa 1 | Chồi lá non (cây ra lộc, lộc non, đâm chồi nảy lộc) |
| Nghĩa 2 | Của trời, thần linh ban cho; phúc, bổng lộc |
| Chữ Hán | 祿 (phúc lành; lương bổng của người làm quan) |
| Loại từ | Danh từ |

Lộc là chồi non hay của trời cho?
Cả hai. Từ điển tiếng Việt tách lộc thành hai mục danh từ. Mục thứ nhất là chồi lá non, ví dụ cây trổ lộc. Mục thứ hai là cái mà trời hay các đấng thiêng liêng ban cho, theo quan niệm xưa, ví dụ hưởng lộc trời, thánh ban lộc.
Nghĩa chồi non là nghĩa của mắt nhìn: tháng Giêng, tháng Hai, cây bàng, cây sấu bật ra những mầm xanh nhạt, người ta nói cây đang ra lộc. Nghĩa thứ hai là nghĩa của niềm tin: món tiền bất ngờ, một mối làm ăn thuận, cả mâm lễ mang từ chùa về chia cho con cháu, đều được gọi là lộc.
Chữ “ra” trong cây ra lộc hay bị gõ nhầm thành “gia”; hai cụm này nghĩa khác nhau, xem bài ra lộc và gia lộc khác nhau ra sao.
Chữ lộc trên lưng người cầm súng
Có lẽ câu thơ về chữ lộc mà học trò nhớ nhất là khổ thơ trong Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải, viết năm 1980:
Mùa xuân người cầm súng
Lộc giắt đầy quanh lưng
Mùa xuân người ra đồng
Lộc trải dài nương mạ
(Một số bản chép câu thứ hai là “Lộc giắt đầy trên lưng”.)
Thanh Hải dùng chữ lộc rất đắt. Với người lính, lộc là những cành lá ngụy trang cài sau lưng; với người nông dân, lộc là màu xanh của mạ non trải khắp nương. Nghĩa đen là chồi non, nhưng ai đọc cũng nghe thấy nghĩa thứ hai: mùa xuân ấy mang lộc, mang may mắn và sức sống cho cả đất nước. Phân tích kĩ hơn về hai hình ảnh này có ở bài tác phẩm Mùa xuân nho nhỏ và nhà thơ Thanh Hải.
祿 trong Phúc Lộc Thọ
Khi là chữ Hán, lộc (祿) có ba nghĩa chính theo các từ điển Hán Việt: phúc, điều tốt lành; bổng lộc, tức lương của người làm quan; và trong văn cổ, “bất lộc” (不祿) là cách nói tránh cái chết. Câu vô công bất thụ lộc (無功不受祿) nghĩa là không có công thì không nhận bổng lộc.
Ông Lộc trong bộ tam đa Phúc Lộc Thọ đứng cho phần thứ hai ấy: chức phận, của cải, sự sung túc. Còn con hươu hay được vẽ cạnh ông Lộc thì có lý do riêng: chữ hươu (鹿) đọc Hán Việt cũng là lộc, đồng âm với 祿. Nghĩa chồi non thì các từ điển chữ Hán không ghi cho chữ 祿; đó là nghĩa người Việt tự dùng.
Lộc còn đi vào những con số. Dân buôn bán đọc số 6 thành lộc, nên mới có lời chúc bằng con số 8386, nghe như “phát tài phát lộc”.
Tài lộc, bổng lộc hay lộc lá?
| Từ | Nghĩa | Sắc thái |
|---|---|---|
| Tài lộc | Tiền của, may mắn trong làm ăn | Tốt, hay dùng trong lời chúc |
| Bổng lộc | Lương bổng và quyền lợi đi kèm chức vụ | Trung tính; nay hay dùng để chê kẻ ham chức |
| Lợi lộc | Lợi ích vật chất | Thường hơi chê (“chỉ nghĩ đến lợi lộc”) |
| Lộc lá | Lộc nói chung (khẩu ngữ) | Thân mật, có lúc mỉa mai |
| Lộc non | Chồi lá mới nhú | Nghĩa đen, giàu chất thơ |
Lộc không có từ trái nghĩa trọn vẹn. Gần nhất là những từ chỉ điều không may như xui xẻo, tai ương. Một câu dùng đúng cả hai nghĩa của chữ lộc: Sáng mùng Một, bà cắm nhành lộc non lên bàn thờ, mong năm mới nhà mình có lộc.
Lộc non, lộc đầu năm và lộc thánh
Tài lộc là gì?
Tài lộc là tiền của và vận may trong làm ăn. Chữ tài (財) là của cải, ghép với lộc thành một từ hay gặp trong lời chúc Tết như “tài lộc dồi dào”.
Hái lộc là gì?
Hái lộc là tục bẻ một nhành cây nhỏ còn lộc non, như cành đa, cành si, mang về nhà vào đêm giao thừa hay buổi sáng đầu năm để lấy may. Nhiều đình chùa hiện khuyên khách không bẻ cành, vì bẻ nhiều làm hại cây.
Lộc trời là gì?
Lộc trời là thứ tự nhiên mà có, không do mình làm ra: mùa màng bội thu, một món quà bất ngờ. Người xưa gọi vậy vì tin rằng đó là trời ban.
Đi lễ về “chia lộc” là gì?
Là chia đồ lễ đã dâng cúng (hoa quả, bánh, xôi) cho người nhà cùng ăn, cùng hưởng. Người ta tin đồ đã cúng mang theo phúc lành nên gọi là lộc.