Cục bộ là thuộc về một phần, một phạm vi hẹp nào đó, đặt trong thế đối lập với cái toàn thể. Mưa cục bộ là mưa ở vài nơi chứ không phủ cả vùng; lợi ích cục bộ là cái lợi của riêng một bộ phận. Hỏi cục bộ nghĩa là gì, người ta thường gặp thêm hai cụm quen: tư tưởng cục bộ và mạng cục bộ.
| Nghĩa ngắn | Thuộc về một bộ phận, một phạm vi nhất định so với toàn thể |
| Gốc từ | Hán Việt 局部: cục (phần việc chia riêng, ván cờ) + bộ (phần, bộ phận) |
| Loại từ | Chủ yếu là tính từ; dùng như danh từ thì ít gặp |
| Sắc thái | Trung tính khi tả phạm vi; chê bai khi nói về lối nghĩ |
| Tiếng Anh | local, partial; tư tưởng cục bộ gần với parochialism |

Cục bộ: một mảnh của bức tranh lớn
Muốn hiểu chữ này, cứ hình dung một tấm bản đồ thời tiết. Cả tỉnh nắng, chỉ một góc huyện có đám mây đen kéo qua và mưa như trút. Bản tin gọi đó là mưa cục bộ. Chữ cục bộ khoanh lại đúng cái góc ấy và ngầm nhắc rằng phần còn lại không giống thế.
Từ điển tiếng Việt tách từ này thành mấy cách dùng:
- Tính từ, chỉ phạm vi: thuộc về một bộ phận, một vùng so với toàn thể. Ví dụ: ngập úng cục bộ ở hai tuyến phố trũng, khó khăn cục bộ của một phân xưởng.
- Tính từ, chỉ lối nghĩ: chỉ chăm chăm vào phần của mình mà không đoái hoài cái chung. Ví dụ: đầu óc cục bộ, tư tưởng cục bộ địa phương.
- Danh từ (ít dùng): một bộ phận của toàn bộ tình hình, như trong câu chỉ thấy cục bộ mà không thấy toàn cục.
Nghĩa thứ nhất trung tính, gặp nhiều trong bản tin, sách giáo khoa Địa lí, báo cáo kỹ thuật. Nghĩa thứ hai thì mang ý chê, thường đi trong lời phê bình một cá nhân hay một tập thể.
局部: ván cờ và từng phần của nó
Chữ cục (局) trong Hán văn có nghĩa là cuộc, là phần việc được chia riêng ra; một ván cờ cũng gọi là một cục. Từ đó mới có thời cục (cuộc diện thời thế), chiến cục, kết cục, bố cục. Cũng chữ ấy chỉ một cơ quan phụ trách riêng một mảng việc, nên ta có cục thuế, cục quản lý.
Chữ bộ (部) là phần, là bộ phận, gặp trong toàn bộ, bộ phận, nội bộ. Ghép hai chữ lại, cục bộ là “phần riêng trong cuộc chung”. Cặp đối của nó dùng chính chữ cục: toàn cục là cả cuộc, cả ván cờ. Người chơi cờ giỏi nhìn toàn cục; người chỉ mải ăn một quân tốt là đang nhìn cục bộ.
Mưa cục bộ, mạng cục bộ, gây tê cục bộ
Ngoài đời, cục bộ hay đứng sau một danh từ để thu hẹp phạm vi của danh từ đó. Vài cụm gặp thường xuyên:
- Mạng cục bộ (LAN, viết tắt của local area network): mạng nối các máy tính trong một phạm vi nhỏ như một nhà, một phòng học, một văn phòng. Cả lớp dùng chung một máy in qua mạng là nhờ mạng cục bộ.
- Biến cục bộ trong lập trình: biến chỉ dùng được bên trong một hàm, ra khỏi hàm là không gọi tới nữa.
- Gây tê cục bộ: chỉ làm tê một vùng nhỏ trên cơ thể, người bệnh vẫn tỉnh, khác với gây mê toàn thân.
- Cháy cục bộ, hỏng hóc cục bộ: sự cố chỉ xảy ra ở một chỗ, một bộ phận của tòa nhà hay cỗ máy, chưa lan ra cả hệ thống.
Ở tất cả các cụm trên, cục bộ không chê ai cả. Nó chỉ là cái thước khoanh vùng.
Đặt cạnh toàn cục, tổng thể và bản vị
| Từ | Quan hệ với cục bộ | Ví dụ |
|---|---|---|
| Bộ phận, một phần | Gần nghĩa (nghĩa phạm vi), nhưng là danh từ | Một bộ phận học sinh chưa nộp bài |
| Toàn cục, toàn bộ | Trái nghĩa trực tiếp | Phải tính đến toàn cục, đừng chỉ sửa chỗ hỏng |
| Tổng thể, toàn diện | Trái nghĩa, thiên về cách nhìn bao quát | Một kế hoạch tổng thể cho cả trường |
| Bản vị | Gần với nghĩa chê của cục bộ: chỉ lo cho đơn vị mình | Tư tưởng bản vị khiến các phòng ban đùn đẩy việc |
| Phiến diện | Họ hàng xa: nhìn một mặt của sự việc, còn cục bộ là đứng về một phần của tập thể | Đánh giá phiến diện một con người |
Cục bộ và phiến diện dễ bị dùng lẫn. Hãy nhớ: phiến diện là lỗi của cái nhìn, thấy một mặt mà tưởng là tất cả; xem kỹ hơn ở bài giải nghĩa chữ phiến diện 片面. Cục bộ là lỗi của chỗ đứng, biết có cái chung nhưng vẫn kéo phần lợi về phía mình.
Khi tư tưởng cục bộ thành chuyện đáng phê phán
Tư tưởng cục bộ là lối nghĩ đặt quyền lợi của địa phương, ngành, đơn vị hay nhóm mình lên trên quyền lợi chung. Một xã chỉ lo đắp bờ cho ruộng xã mình, mặc nước tràn sang xã bên. Một tổ trong lớp giấu tài liệu ôn thi để tổ mình được điểm thi đua cao nhất. Một đội bóng chỉ chuyền cho bạn thân. Ba cảnh rất khác nhau nhưng cùng một gốc.
Viết đoạn nghị luận về lối nghĩ này, có thể đi theo ba ý:
- Biểu hiện: so bì, tranh phần lợi cho nhóm mình; đẩy cái khó sang nhóm khác; không chia sẻ thông tin.
- Hậu quả: việc chung chậm lại, các nhóm nghi kỵ nhau, cuối cùng chính nhóm mình cũng thiệt khi cả tập thể đi xuống.
- Cách sửa: tập nhìn từ vị trí người khác, đặt mục tiêu chung lên trước, nhận phần khó về mình khi cần.
Lối nghĩ này hay đi cùng tầm nhìn ngắn, chỉ tính cái lợi trước mắt, mà bài nghĩa của chữ thiển cận 淺近 đã nói rõ hơn. Còn một lưu ý về câu chữ: viết “lợi ích cục bộ” là đủ ý chê, không cần thêm “lợi ích cục bộ hẹp hòi” cho thừa.
Cục bộ trong câu chữ hằng ngày
Tư tưởng cục bộ là gì?
Là lối nghĩ chỉ quan tâm tới quyền lợi của bộ phận, địa phương hay nhóm mình mà xem nhẹ lợi ích chung. Cụm này mang nghĩa phê phán, thường gặp trong văn bản nhận xét, kiểm điểm và bài nghị luận.
Mạng cục bộ là gì?
Là mạng máy tính kết nối các thiết bị trong một phạm vi nhỏ như gia đình, trường học, văn phòng, tiếng Anh gọi là LAN. Nhờ mạng này, các máy có thể dùng chung tệp, máy in, đường truyền internet.
Cục bộ tiếng Anh là gì?
Nghĩa chỉ phạm vi thường dịch là local (mạng cục bộ: local network) hoặc partial. Nghĩa chê lối nghĩ cục bộ có thể dịch là parochial hoặc parochialism.
Cục bộ là từ thuần Việt hay Hán Việt?
Là từ Hán Việt, chữ Hán viết 局部. Vì thế nó hợp với văn viết, văn bản hành chính, khoa học; trong lời nói thường ngày, người ta hay thay bằng “một chỗ”, “một vài nơi”, “riêng một nhóm”.